Phát triễn thương hiệu: Cần sự đầu tư bài bản

Xuất khẩu trực tiếp từ lâu vẫn là niềm ao ước của người Việt Nam. Tuy nhien điều đó không dễ vì hầu như doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường thế giới và không chủ động trong tiếp cận đối tác, thậm chí rất thiếu kỹ năng trong tham gia thị trường quốc tế.
Thực tế cho thấy, đại bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, thiếu sự gắn kết tập trung giữa các cơ sở sản xuất nên khó đáp ứng được những đơn hàng lớn.
Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp chưa có điều kiện và cũng chưa chú trọng đầu tư cho xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm và thương hiệu doanh nghiệp, nhất là việc tạo mẫu và thiết kế.

Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ. Hệ quả là rất nhiều hàng thủ công Việt Nam không có những công dụng rõ rệt và chưa hướng vào mục tiêu chiếm lĩnh một thị trường cụ thể nào.
Ví dụ, thị trường châu Phi và Tây Nam Á thường ưa chuộng những sản phẩm màu sắc đậm, hàng khổ to, thô ráp, không cần tinh xảo, phù hợp với thiên nhiên và không gian rộng. Thị trường Ả Rập thường không thích những sản phẩm có hình sư tử, hổ, báo, hươu nai vì không phù hợp với đặc trưng văn hóa nắng nóng sa mạc cát của vùng này. Nếu chúng ta cứ sao chép dập khuôn kiểu dáng giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc của Trung Quốc thì sẽ gặp những vấn đề rắc rối về mặt pháp lý và sở hữu trí tuệ.

- Doanh nghiệp thu lại giá trị cho mình thông qua lợi nhuận, uy tín, giá trị thương hiệu, cơ hội phát triển... giá trị gia tăng nhỏ nhoi cho các doanh nghiệp, vì thiếu tính chủ động trong huy động các nguồn lực sản xuất.  


Đó là chưa kể, thị hiếu con người luôn biến đổi theo thời gian, nếu các doanh nghiệp không chịu nghiên cứu mà cứ sử dụng các mẫu mã cũ sẽ rất dễ gây nhàm chán. Vì vậy, việc đưa ra được những sản phẩm độc đáo sẽ có tính quyết định quan trọng trong nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. 


Chủ động tìm thị trường

 Việc xuất khẩu qua trung gian đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sản xuất phải chấp nhận giá bán thấp, gây ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp và thu nhập người lao động, khó nắm bắt được nhu cầu khách hàng. Không chỉ mất chi phí trung gian mà các doanh nghiệp còn mất đi cơ hội được giới thiệu về sản phẩm của mình bởi vì sản phẩm xuất ra nước ngoài phải mang nhãn mác của các nhà phân phối lớn trên thế giới.   Theo một khảo sát của Trường Đại học Thương mại năm 2008, có tới 80% số hợp đồng xuất khẩu nông sản, thủ công mỹ nghệ được ký kết với nước ngoài là do đối tác tự tìm đến. Điều đó cho thấy, nếu các doanh nghiệp năng động hơn nữa trong việc tìm kiếm đối tác thì tiềm năng rất dồi dào.
Theo các chuyên gia, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần chủ động tìm kiếm qua các kênh làm việc trực tiếp hoặc qua các đoàn khảo sát, qua Thương vụ Việt Nam tại các nước hoặc qua các hội chợ, triển lãm, qua người thân, bạn bè đi du lịch, công tác ở nước ngoài... Đặc biệt là phải tìm được các kênh phân phối riêng bằng những mặt hàng đặc biệt với những mẫu mã độc đáo khác lạ, tạo sự khác biệt cho sản phẩm để nâng sức cạnh tranh trên thị trường.

NQ

Hướng tới chiến lược cạnh tranh động

Bài viết này bàn đến việc lựa chọn chiến lược kinh doanh như thế nào cho hiệu quả dưới góc độ kinh tế học Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không thể chỉ hiểu đơn giản qua việc cạnh tranh sống còn mà còn được hiểu như sự tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng hơn nữa nhu cầu con người. Cạnh tranh là chìa khóa hướng tới sự phát triển xã hội hiện đại và là giải pháp để hướng tới mục tiêu mọi người cùng hưởng lợi.
 
 
Minh họa: Khều.
Kể từ khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2006, và sau khi trải qua giai đoạn khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ có những sức bật mạnh và bùng nổ nhu cầu trong thập kỷ tới. Việc tham gia của nhiều tổ chức, thành phần kinh tế chuyên nghiệp trong nước và nước ngoài làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường Việt Nam. Bài viết này bàn đến việc lựa chọn chiến lược kinh doanh như thế nào cho hiệu quả dưới góc độ kinh tế học.

Sự đa dạng của sản phẩm và nhu cầu thị trường

Từ bài học cơ bản về kinh tế của Adam Smith với lý thuyết “bàn tay vô hình”, trong đó mô tả cơ chế cạnh tranh về giá cho một loại sản phẩm duy nhất trong một thị trường đồng nhất, việc sản phẩm được bán với giá bằng chi phí sẽ cho doanh nghiệp lợi nhuận bằng 0.

Thực tế chứng minh rất nhiều trường hợp, trong đó cơ chế “bàn tay vô hình” không được áp dụng. Vì vậy, việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường, sự thay đổi, mục tiêu phát triển của mỗi doanh nghiệp.

Thị trường trong lý thuyết của Adam Smith được miêu tả là đồng nhất (homogenous) với cùng một mức độ nhu cầu của mọi người. Trong thực tế, nhu cầu của con người rất khác nhau, được quyết định bởi nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, văn hóa, thu nhập… tạo nên một nhu cầu đa dạng trong thực tiễn.

Vì vậy, một sản phẩm không thể đáp ứng được tất cả những đòi hỏi đó. Do đó, doanh nghiệp cần lựa chọn cho mình một chiến lược đúng đắn để đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm thiểu sự cạnh tranh đơn giản về giá thông qua chiến lược cạnh tranh dựa trên sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ (differentiation).

Trong kinh tế học, doanh nghiệp có thể lựa chọn hai loại khác biệt là khác biệt dọc (vertical) và ngang (horizontal). Khi sản phẩm có sự khác biệt về chất lượng, những đặc tính chất lượng mà chúng ta có thể cân, đong, đo, đếm và so sánh được thì gọi là sự khác biệt dọc. Chẳng hạn, ôtô do Trung Quốc sản xuất thì thường không thể so sánh được với ôtô do Mỹ, Nhật sản xuất; hoặc dịch vụ trong một khách sạn 5 sao sẽ tốt hơn nhiều so với dịch vụ tại một nhà trọ dành cho sinh viên.

Ngoài ra, khi sản phẩm có những đặc tính khác biệt, nhưng sự cảm nhận về sự khác biệt đó là do nhu cầu, sự cảm nhận của từng nhóm khách hàng, hay đơn giản là do vị trí địa lý của sản phẩm đó. Chẳng hạn, chúng ta không thể nói chất lượng dịch vụ của hãng viễn thông này tốt hơn hãng viễn thông kia hoặc ngược lại. Tuy nhiên, có nhiều người ưa thích sử dụng dịch vụ của hãng này trong khi đó số khác lại chọn hãng kia.

Hoặc trên một con đường có hai cửa hàng bán cùng một loại kem. Nếu hai cửa hàng đó kinh doanh tại cùng một địa điểm, thì chúng ta quay trở lại trường hợp của Adam Smith, hai cửa hàng này sẽ đạt được lợi nhuận bằng 0 bởi khách hàng có thể lựa chọn bất kỳ hàng kem nào và do đó việc tăng giá sẽ không bán được hàng (chúng ta không xem xét trường hợp có sự cấu kết hay thông đồng giữa hai cửa hàng kem).

Thử tưởng tượng trong trường hợp hai cửa hàng kem đặt tại hai đầu của con đường đó. Lúc này cửa hàng kem có thể bán giá cao hơn trường hợp trước, bởi khách hàng không dễ dàng thay đổi nơi mua hàng vì như thế khách hàng sẽ phải mất chi phí di chuyển trên con đường đó.

Từ hai loại khác biệt về sản phẩm, dịch vụ ở trên, có thể thấy rằng việc cạnh tranh không nhất thiết phải giảm giá thành và trong rất nhiều trường hợp khách hàng mong muốn có sự khác biệt về sản phẩm hơn là sự khác biệt về giá. Do vậy, để thành công, doanh nghiệp cần phải hiểu được sự phân khúc thị trường (market segmentation) và việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ phải hướng tới những nhóm khách hàng nhất định.

Từ cạnh tranh tĩnh, hướng tới cạnh tranh động

Như đã đề cập ở trên, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể được hiểu như là sự cạnh tranh tĩnh: cạnh tranh dựa trên sự khác biệt mà không xét đến chu kỳ sống của sản phẩm, dịch vụ. Hướng tới cạnh tranh động, doanh nghiệp cần có sự đầu tư thích hợp vào việc nghiên cứu và phát triển để tạo ra sản phẩm mới.

Trường hợp sản phẩm mới thay thế hoàn toàn sản phẩm cũ thì gọi là cạnh tranh hủy diệt (destructive competition) và doanh nghiệp thành công trở thành doanh nghiệp độc quyền và đạt được lợi nhuận cực đại (winner-take-all) cho đến khi một sản phẩm khác được tạo ra. Trong thực tế có rất nhiều phát minh, sáng chế đã thay thế các sản phẩm cũ như sự ra đời của máy tính cá nhân đã làm biến mất nhu cầu sử dụng máy đánh chữ; xe gắn máy ngày nay đã thay thế hoàn toàn những chiếc Mobilette của những thập kỷ trước.

Trong trường hợp cạnh tranh ít khắc nghiệt hơn và sản phẩm mới không thể thay thế hoàn toàn sản phẩm cũ, ít nhất trong một thời gian ngắn, hoặc có sự xuất hiện sản phẩm khác tương tự, có thể cạnh tranh với sản phẩm đó, doanh nghiệp tiên phong vẫn có thể được lợi từ bước đi chiến lược của mình (first mover advantages) như quá trình xây dựng thương hiệu, danh tiếng, tích lũy nguồn vốn, kiến thức thị trường nhiều hơn so với những đối thủ cạnh tranh khác ra đời sau.

Tất nhiên, việc đi tiên phong cũng có những rủi ro nhất định, và người đi sau có thể tránh được những rủi ro đó từ việc học hỏi kinh nghiệm của người đi trước. Do đó, một doanh nghiệp muốn thành công cần có chiến lược mạo hiểm nhưng khôn ngoan.

Ngoài ra, khi một doanh nghiệp đầu tư nhằm mục đích cung cấp một sản phẩm, dịch vụ trên một thị trường mới, chúng ta có thể nói doanh nghiệp đó cạnh tranh cho thị trường (compete for the market). Còn cạnh tranh trong thị trường (compete in the market) là cuộc đua của những doanh nghiệp tại thị trường cũ.

Chẳng hạn, thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông 3G được kỳ vọng là cuộc đua cho thị trường mới, trong đó người sử dụng được hưởng dịch vụ viễn thông di động hiện đại với nhiều chức năng, ứng dụng mới như truy cập Internet, xem ti vi…

Ngược lại, hiện nay, sự cạnh tranh giữa các hãng viễn thông tại Việt Nam được hiểu là sự cạnh tranh trong thị trường. Các doanh nghiệp cố gắng cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ 2G hiện tại như dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn, giá cước hấp dẫn hơn…

Tóm lại, chiến lược cạnh tranh đa dạng và khôn ngoan sẽ đem lại lợi nhuận doanh nghiệp và cũng làm tăng sự thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Đó chính là cách tốt nhất để mọi người cùng được hưởng lợi.
NQ

Trang trí ngôi nhà mùa xuân

Mùa xuân chính là mùa để vạn vật khởi đầu một cuộc sống mới, ngôi nhà thân yêu của chúng ta cũng không phải là ngoại lệ. Bạn hoàn toàn có thể mang đến cho ngôi nhà một sức sống mới bằng việc trang trí theo những gợi ý dưới đây. 
 
1.Bổ sung màu trắng
Màu trắng chính là sự lựa chọn hoàn hảo nhất để mang lại cho ngôi nhà một không gian sáng sủa tươi mát. Nếu như căn hộ của bạn được thiết kế thiên về các tông màu ấm như màu vàng, nâu hay màu đỏ…thì thay vì chọn màu trắng sáng bạn nên chọn màu trắng ngà, màu kem nhạt để sự lựa chọn không bị lạc tông.
2.Chú ý đến bức tường tiêu điểm
Chỉ một sự thay đổi nhỏ ở bức tường trọng tâm sẽ mang đến một bộ mặt hoàn toàn khác cho cả căn phòng. Sự lựa chọn phù hợp cho mùa xuân sẽ là những màu sắc tươi sáng, ấm áp như màu hồng tươi hoặc xanh da trời.
3.Sử dụng hoạ tiết hoa
Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc chính vì lẽ đó mà những hoạ tiết hoa trang trí được sử dụng cho vải bọc ghế, vỏ gối, rèm cửa…cũng chính là cách mà bạn mang hơi thở của mùa xuân vào không gian sống của mình. Cách làm này không tốn nhiều thời gian và tiền bạc nhưng bạn hãy nhớ chú ý để lựa chọn những hoa văn sao cho phù hợp với bối cảnh chung của cả căn phòng.
4.Lựa chọn một số đồ đạc bằng thuỷ tinh
Những món đồ bằng thuỷ tinh không chỉ mang một nét đẹp khá mềm mại và quyến rũ mà nó còn mang đến thêm cho căn phòng một chút ánh sáng. Lọ hoa, đĩa đựng kẹo, hộp cắm bút…là những lựa chọn bạn nên cân nhắc.
5.Cất những tấm rèm cửa
Những tia nắng của mùa xuân chỉ mang đến cảm giác ấm áp chứ không hề gay gắt vì thế nên bạn hãy tạm thời cất những tấm rèm cửa vào tủ thay vào đó là một vòng hoa lụa chẳng hạn. Đó là một cách hiệu quả để làm mới không gian và cũng là cách để bạn mang thêm thật nhiều không khí của mùa xuân vào nhà.
6.Giữ sạch cửa sổ
Một cửa sổ bám đầy bụi bẩn có thể làm giảm đáng kể lượng ánh sáng đi vào nhà nên bạn cần lau chùi cửa sổ thật sạch. Cửa sổ sạch sẽ sẽ làm căn phòng trở nên sáng hơn, rộng hơn và thoáng mát hơn.
7.Sử dụng những chậu hoa tươi
Khác với việc sử dụng các hoạ tiết hoa trong trang trí, bạn có thể mang bất kỳ cây hoa nào mà bạn yêu thích ngoài vườn nhà vào trong phòng, cách làm này đơn giản mà lại đem lại hiệu quả rất tốt. Và sẽ càng đặc biệt hơn khi những bông hoa tươi thắm đó được chính bạn chăn bón mà có được.
8. Làm sạch tất cả những món đồ trang trí trên tường
Công việc này không chỉ đảm bảo yếu tố vệ sinh đơn thuần mà những đồ đạc sạch bóng xung quanh bạn sẽ làm cho không gian sảng sủa và tươi mới hơn. 



NQ

6 Yếu tố cần tránh khi hợp tác kinh doanh

Hợp tác giữa các công ty đã trở thành một phần quan trọng trong kinh doanh. Lý do thật đơn giản: đó là bổ sung kỹ năng cho nhau, chia sẻ công cụ, chi phí và ý tưởng để có thể hiện thực hóa một sáng kiến hay và các bên hợp tác sẽ cùng thu được lợi nhuận.
Nhưng cũng tương tự như một sự “hôn phối” giữa hai cá thể, bên trong mối quan hệ hợp tác thường có không ít rắc rối và thử thách liên quan đến vô số vấn đề như chi phí, thuê mướn nhân viên, chia sẻ lợi nhuận. Vì thế, nếu đang nghĩ đến chuyện hợp tác cùng doanh nghiệp nào đó, bạn hãy cân nhắc đến những điều sau đây:

1. Không cân nhắc kỹ khi góp vốn

Bất cứ lúc nào nói đến việc phải sẻ chia một phần vốn của mình, như tiền bạc, nguyên liệu, thông tin và bất động sản, thì có nghĩa là bạn sẽ mất đi một phần khả năng nắm bắt sự nghiệp của mình. Trong một thế giới hoàn hảo, người hợp tác cùng luôn có ý chí tốt, chính trực và không hề có ý tưởng chiếm đoạt phần tài sản ấy hay sử dụng chúng để kiếm tiền cho riêng mình, nhưng cuộc sống hiện nay không hoàn mỹ như thế. Do đó, hãy luôn cẩn trọng, tính toán mọi chi phí hoạt động và lợi nhuận mà bạn chia sẻ theo một bản thỏa thuận hợp tác. Cũng đừng quên tạo ra một lối thoát dễ dàng cho mình nếu mọi chuyện trở nên không như ý muốn.

2. Hợp tác chỉ vì không đủ tiền thuê nhân công

Đây chính là liều thuốc giết chết sự hợp tác ngay khi mới bắt đầu. Hoàn cảnh thường rất quen thuộc: A có ý tưởng kinh doanh và B lại sở hữu kỹ năng kinh doanh, nhưng A không đủ khả năng thuê mướn B nên họ quyết định cùng chia sẻ công việc, chi phí và lợi nhuận. Điều gì sẽ xảy ra nếu A và B cùng kết thúc mọi thứ trong tình trạng cả hai đối đầu với nhau và A chợt nhận ra rằng anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào những điều lệ bắt buộc ghi trong hợp đồng hợp tác với B? Nếu bạn có được một ý tưởng và biết một ai đó có được một kỹ năng thì hãy thuê anh ta hoặc thực hiện một bản hợp đồng chấp thuận sự độc lập của mình.

3. Thiếu hợp đồng hợp tác

Trong sự hợp tác, mọi chi tiết và trách nhiệm đều phải được kê khai rõ ràng và viết ra giấy, và hợp thức hóa bằng hợp đồng có cả sự tham gia của luật sư hai bên. Bạn sẽ rất cần đến luật sư khi tình thế xấu đi.

4. Xem thường việc hợp tác hữu hạn

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của hợp đồng hợp tác chính là việc hiểu nhầm về các điều lệ pháp lý mà các bên đặt ra cho nhau. Một điều đáng chú ý chính là chủ quan trong sự hợp tác hữu hạn, nghĩa là một bên không phải chịu trách nhiệm về những hành động hay bổn phận nào của bên kia. Hãy để luật sư xem xét kỹ vấn đề này trong bản thỏa thuận.

5. Thiếu hẳn một lối thoát

Trong bất kỳ thỏa thuận hợp tác nào, hãy xác định rõ các điều khoản cho phép bạn và đối tác có thể chấm dứt việc hợp tác hoặc những lựa chọn liên quan đến việc mua lại toàn bộ tài sản của đối tác. Đây thật sự là một công việc dễ dàng và minh bạch, cũng như không hề dính dáng đến sự thành công của việc kinh doanh chung.

6. Tiến hành hợp tác 50/50

Trong việc hợp tác cần có một người đứng ra làm chủ. Nếu quyết định hợp tác, hãy góp vốn theo tỷ lệ 60/40 hoặc 70/30. Được như thế, bạn và bên đối tác rõ ràng sẽ có được một nhân vật chủ chốt cho chức danh quản trị và nắm bắt toàn bộ mọi hoạt động của công ty. 


NQ 

Chậm lại để nhanh hơn

Nhiều người thường than phiền rằng việc nhiều quá, bận bù đầu bù cổ, không có thời gian để nghỉ ngơi... Và họ, trước mắt mọi người, lúc nào cũng tất bật, vội vã. Lý do thật đơn giản: họ chưa biết quản lý thời gian! Để quản lý thời gian hiệu quả, nhiều người đã tham gia các lớp học về quản lý thời gian nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề. Vậy “bí quyết” nằm ở đâu? Anh Quách Tuấn Khanh - Giám đốc công ty tiếp thị truyền thông Starlit, kiêm Giám đốc Trung tâm huấn luyện Thành Công
 

- “Bí quyết” sử dụng thời gian hiệu quả là bạn phải tập thật tập trung trong lúc sử dụng thời gian, cho dù bạn đang chơi, đang học, làm việc, nghe nhạc, xem phim… Bạn cứ thưởng thức cuộc sống chứ đừng để cho thời gian trôi qua lãng phí. Hãy nhớ rằng, bạn không thể làm mọi việc cùng một lúc mà chỉ có thể làm từng việc một. Nhiều người cứ lên kế hoạch trong buổi sáng có 10 việc phải làm cho xong và bằng mọi cách phải làm xong những việc đó. Anh ấy có thể hoàn thành tất cả những việc đó nhưng tôi cam đoan với bạn rằng không phải việc nào anh ta cũng làm một cách hoàn hảo. 

* Những kỹ năng cơ bản để “quản lý” thời gian? 

- Hãy đặt thứ tự ưu tiên trong công việc: xác định tầm quan trọng của công việc; mức độ khẩn cấp và phân bố thời gian; dự trù công việc đó mất thời gian bao lâu để thực hiện đúng tiến độ. Nhiều người than phiền là cứ tưởng công việc đó dễ, chỉ cần làm trong một giờ là xong nhưng khi bắt tay vào làm, mất cả ngày vẫn không xong. Kéo theo đó là bao nhiêu việc khác trong ngày bị đình trệ.
Khi làm việc theo một khung thời gian đã định sẵn, người nước ngoài có câu: “How to say no?” (Làm thế nào để nói không). Có nghĩa là, làm sao biết từ chối những công việc không quan trọng và không khẩn cấp để giải quyết công việc mà bạn đang làm cho xong. Đôi khi bạn cũng gặp tình thế “éo le” như: những người có ảnh hưởng đến mình như sếp hay bạn bè nhờ làm một việc khác mà bạn không thể từ chối. Bạn hãy giải thích cho sếp hiểu, tôi sẽ làm công việc sếp giao vào lúc khác. Nhưng trường hợp này hầu như rất ít, hầu hết là do chính bạn không tránh được những “cám dỗ” xung quanh như: đang làm việc, bạn đến rủ đi uống ly cà phê. Bạn cứ nghĩ chỉ mất 10 phút có sao đâu. Ngồi nghe nhạc hay quá. Cứ thế 2 giờ trôi qua…

* Từ chối chỉ là giải pháp tạm? 

- Chính vì là giải pháp tạm nên bạn hãy bắt tay vào việc lập kế hoạch làm việc trong ngày. Rất hiếm người làm điều này vì cho rằng bản thân họ còn chưa đủ thời gian để làm việc lấy đâu ra thời gian lập kế hoạch. Lời khuyên của tôi là: bạn hãy tập thói quen lập kế hoạch trong ngày để mỗi ngày xem lại và lập lại kế hoạch cho ngày mai. Câu nói “Không lập kế hoạch nghĩa là lập kế hoạch để thất bại” luôn luôn đúng. Bạn không có kế hoạch trong ngày thì làm sao có kế hoạch trong một tháng, một năm và kế hoạch cả cuộc đời. Thời gian đầu bạn sẽ cảm thấy khó khăn khi thực hiện cam kết đó. Tập dần, bạn sẽ thấy quen thôi. 

* Vì sao nhiều người đã học qua nhiều lớp quản lý thời gian nhưng vẫn không thực hiện được? 

- Là do họ không rèn luyện, không cam kết, không giữ kỷ luật với chính bản thân mình. 

* Anh có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm? 

- Tập trung sẽ làm việc tốt. Hứng thú trong công việc sẽ giải quyết công việc tốt. Thói quen của cuộc sống hiện đại lúc nào cũng hối hả đã làm cho con người mỏi mệt hơn. Hãy rèn luyện để cuộc sống chậm lại. Chậm ở đây không phải là làm mọi thứ chậm mà là phá bỏ thói quen gấp gáp để tập trung vào đúng việc của mình. Sống chậm lại để nhanh hơn, đạt được kết quả tốt hơn. Mỗi ngày bạn nên dành 5, 10 phút tập trung lắng nghe hơi thở, hoặc suy nghĩ về bản thân mình.

khi nào nên thay dầu động cơ

Các chuyên gia cho rằng nếu đi dưới thời tiết khắc nghiệt, tải trọng lớn thì sau mỗi 3.000 km thay dầu là phù hợp. Nhưng với điều kiện bình thường, giá trị đó có thể tăng lên thành 10.000 km. Câu hỏi thường gặp nhất của những người mới sử dụng xe hơi là bao nhiêu lâu thì phải thay dầu động cơ. Câu trả lời cho những thắc mắc đó rất khác nhau. Nguyên nhân bởi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dầu. Vì vậy, không có câu trả lời chắc chắn đúng cho tất cả các trường hợp.

Khi nào nên thay dầu động cơ


Có người cho rằng sau khoảng 3.000 km, số khác là 5.000 km hoặc 10.000 km. Tất cả những đáp án đó đều đúng, nếu xét ở một mặt nào đó. Lịch thay dầu thường phụ thuộc vào quãng đường thường xuyên đi dài hay ngắn, nhiệt độ ngoài trời cao hay thấp và tải trọng có lớn hay không. Ngoài ra, đi một đoạn đường dài thường không làm hỏng dầu nhanh bằng duy trì xe ở tốc độ cao.

Một số tài xế lái xe chở hàng quen thay dầu sau khoảng 3.000 km. Các sổ tay hướng dẫn thì khuyên ở mức 10.000 km hoặc hơn. Để nhắc nhở, một số hãng tích hợp phần mềm hiển thị thời gian thay dầu. Mỗi khi đến hạn, đèn báo lại sáng.


Chương trình báo thời điểm thay dầu được tính toán dựa trên hoạt động của động cơ, hệ truyền động. Các kỹ sư cho dầu mới một giá trị và giảm dần mỗi khi động cơ hoạt động. Đến khi giá trị này bằng không, hệ thống cảnh báo sẽ hoạt động. Một vài hãng còn tình toán tới cả thời gian "máy nguội". Nguyên nhân là do nhiệt độ thấp sẽ tăng khả năng tích hơi ẩm, axit và nhiên liệu không cháy trong dầu. Điều đó làm giảm đáng kể tuổi thọ.


Nguyên nhân khiến dầu mất phẩm chất


Dầu động cơ là một hỗn hợp rất phức tạp, bao gồm các chất hydrocarbon (lấy từ dầu mỏ hoặc tổng hợp) và phụ gia. Phân tử dầu thường có xu hướng phân hủy dưới nhiệt độ cao, áp suất lớn. Tuy nhiên, việc dầu mất phẩm chất lại phụ thuộc vào một thành phần chiếm tỷ lệ rất ít, từ 0,01 đến 5%. Đó là chất phụ gia.


Phụ gia là các thành phần hữu cơ được thêm vào nhằm tăng độ nhớt, chống ăn mòn, chống đóng cặn để giúp động cơ bền hơn. Đây là những chất rất dễ phân hủy, đặc biệt ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt như dưới piston.


Việc nước ngưng đọng trong dầu cũng khiến phụ gia phân hủy, tạo axit ăn mòn các chi tiết kim loại. Vì vậy, nếu dầu bị đen và đặc là dấu hiệu cho thấy phụ gia đã bị phá hủy. Đó là lúc cần phải thay dầu và bộ lọc.


Các chất bẩn cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới thời hạn thay dầu. Gần như không có cảm biến nào đo được độ bẩn của dầu động cơ. Ngày nay bộ lọc và các chi tiết rất kín khít nhưng nếu vận hành ở những nơi nhiều bụi, bạn cần thường xuyên xem dầu có bẩn hay không.


Thông thường, dầu tổng hợp bền hơn do các thành phần không dễ bị phá hủy. Chẳng hạn một chiếc xe đổ dầu tổng hợp đi dưới điều kiện thời tiết ấm, tải trọng nặng có thể thay sau 16.000 km. Cùng điều kiện đó, dầu thường cần phải thay sau 10.000 km.
 

Tác dụng và tính chất dầu nhờn

Trong động cơ, dầu nhờn có nhiều tác dụng như giảm ma sát giữa hai bộ phận tiếp xúc trực tiếp với nhau, giải nhiệt làm mát, làm kín, chống ăn mòn. Tuy nhiên, tác dụng cơ bản nhất của nó vẫn là giảm ma sát nên độ nhớt là chỉ tiêu có ảnh hưởng quan trọng nhất đến chất lượng của một sản phẩm dầu nhờn thương mại. Tính chất đặc trưng

Tác dụng và tính chất của dầu nhờn


Độ nhớt của dầu thay đổi theo nhiệt độ. Khi ở nhiệt độ cao, độ nhớt giảm và ngược lại. Dầu có độ nhớt thấp dễ di chuyển hơn so với dầu có độ nhớt cao. Ngoài ra, do trọng lượng của các phân tử cấu thành nên dầu nhờn có liên quan trực tiếp đến độ nhớt của nó nên người ta thường gọi thành dầu nặng hay dầu nhẹ. Dầu nhẹ dùng để chỉ loại có độ nhớt thấp, dầu nặng chỉ dầu có độ nhớt cao.

Trên thực tế, dầu nhẹ dễ bơm và luân chuyển qua động cơ nhanh hơn. Ngược lại, dầu nặng thường có độ nhớt cao, di chuyển chậm hơn nên có áp suất cao hơn nhưng lưu lượng dầu qua bơm lại thấp hơn



Dầu nhớt tổng hợp. Synthetic


Dầu nhờn sản xuất từ dầu mỏ vẫn chiếm ưu thế do nó có những ưu điểm như: công nghệ sản xuất dầu đơn giản, giá thành rẻ. Nhưng ngày nay, để đáp ứng yêu cầu cao của dầu nhờn bôi trơn, người ta bắt đầu quan tâm đến dầu tổng hợp nhiều hơn. Dầu tổng hợp là dầu được tạo ra bằng các phản ứng hóa học từ những hợp chất ban đầu, do đó nó có những tính chất được định ra trước. Nó có thể có những tính chất tốt nhất của dầu khoáng, bên cạnh nó còn có các tính chất khác đặc trưng như là: không cháy, không hòa tan lẫn trong nước. Ưu điểm của dầu tổng hợp là có khoảng nhiệt độ hoạt động rộng từ -55°C đến 320°C, có độ bền nhiệt lớn, có nhiệt độ đông đặc thấp, chỉ số độ nhớt cao… Chính những ưu điểm này mà dầu tổng hợp ngày càng được sử dụng nhiều, nhất là trong các động cơ phản lực.



Dầu nhớt Synthetic = Tốt nhưng đắt  .


Nhớt Synthetic (nhớt tổng hợp) là loại nhớt rất hữu hiệu trong việc kéo dài tuổi thọ máy . Nhớt này ĐẮT hơn , nhưng dĩ nhiên cũng tốt hơn rất nhiều so với các lọai nhớt phổ thông vốn là nhớt khóang vật (mineral oil). Vận hành với nhớt Synthetic các linh kiện trong máy sẽ được bảo vệ hiệu quả hơn và chúng ta cũng không phải thay nhớt thường xuyên.