HƯỚNG DẪN VỀ DẦU NHỚT XE MÁY

Chức năng của dầu nhớt động cơ là gì ?
- Bôi trơn (giảm ma sát, chống mài mòn), chống ăn mòn, làm mát, làm kín và làm sạch động cơ



Độ nhớt của dầu động cơ được biểu thị bằng gì ?
Cấp độ nhớt SAE (J300) :
- Dầu nhớt SAE 10W, SAE 40, … là dầu đơn cấp chỉ thích hợp cho một mùa
- Dầu nhớt SAE 5W-40, SAE 20W-50, …là dầu đa cấp, có thể sử dụng quanh năm trong mọi điều kiện thời tiết

Có phải dầu đặc (độ nhớt cao) là dầu tốt ?
Không. Độ nhớt được chọn để phù hợp với điều kiện thời tiết và/hoặc tính năng vận hành của động cơ.

Tính năng của dầu nhớt động cơ được biểu thị bằng gì ?
Có nhiều hệ thống xếp hạng tính năng do :
- các tổ chức kỹ thuật quốc tế như API (Mỹ), ACEA ( Châu Au), JASO (Nhật)
- các nhà sản xuất động cơ (chủ yếu đối với dầu nhớt động cơ ô tô)

Các sản phẩm dầu nhớt trên thị trường có cùng độ nhớt SAE và cấp tính năng API có như nhau không ?
Sản phẩm của các hãng uy tín bảo đảm đáp ứng đúng các yêu cầu kỹ thuật qui định bởi các tiêu chuẩn SAE và API nên về cơ bản là tương đương nhau. Tuy nhiên mỗi sản phẩm của từng hãng có thể được thiết kế đặc biệt để mang lại lợi ích nổi trội hơn phù hợp với  phân khúc thị trường chọn lọc.

Làm thế nào để chọn lựa được loại dầu nhớt thích hợp cho loại xe đang sử dụng ?
Tham khảo chỉ dẫn của hãng sản xuất xe, thường được ghi rõ trong “Tài liệu hướng dẫn cho người sử dụng” (Owners Manual).
Các chỉ dẫn này thường là cấp độ nhớt SAE và cấp tính năng của dầu nhớt (API) và người sử dụng xe có thể chọn loại dầu nhớt trên thị trường có đặc tính kỹ thuật phù hợp và thương hiệu có tiếng để được đảm bảo về chất lượng và tính năng vận hành.



 Những sản phẩm dầu nhớt động cơ xe máy BP bao gồm:


Loaïi xe
Saûn phaåm BP
Tieâu chuaån kyõ thuaät
Xe soá 4T
- Vistra 300 4T
- Vistra 100 4T
SAE 20W-50, API SJ, JASO MA
SAE 20W-40, API SF
Xe soá 2T (1)
Vistra 300 2T
JASO FC
Xe tay ga 4T (2)
Vistra 300 Scooter 4T
SAE 10W-40, API SJ, JASO MA

Ghi chú :
(1)    : xe số 2T dùng 2 loại dầu nhớt :
- Nhớt 2T là nhớt pha với xăng để bôi trơn động cơ, vd. Vistra 300 2T
- Nhớt 4T đổ vào các-te để bôi trơn ly hợp và hộp số, vd. Vistra 300 4T
(2)    : xe tay ga còn dùng một loại nhớt truyền động để bôi trơn bộ truyền động cuối, vd Vistra 300 Scooter Gear Oil (thường được gọi là “nhớt hộp số xe tay ga”, tuy nhiên cách gọi này không chính xác và có thể gây hiểu lầm ).

Dầu nhớt động cơ ô tô chạy xăng và dầu nhớt động cơ xe máy 4 thì có gì khác nhau ?
Trong ô tô, dầu nhớt động cơ chỉ bôi trơn động cơ nên thường được pha chế với độ nhớt thấp (có khi rất thấp, vd. SAE 0W-30, SAE 0W-40) và tăng cường phụ gia giảm ma sát để bôi trơn tốt và phát huy tối đa công suất động cơ, giảm tiêu hao nhiên liệu. Do đó sử dụng dầu nhớt động cơ ô tô cho xe máy 4 thì có thể làm trượt ly hợp.
   
Dầu nhớt xe máy 2 thì (2T) và 4 thì (4T) khác nhau thế nào ? Nếu dùng sai loại dầu thì có hại cho xe không ?
Động cơ 2T và 4T khác biệt về kết cấu và kiểu bôi trơn nên cần hai loại dầu nhớt hoàn toàn khác nhau.
Dầu nhớt 2T được pha trộn với xăng theo một tỉ lệ thích hợp và đi vào buồng đốt để bôi trơn xi-lanh, pít-tông, bạc xéc-măng, vì thế bị đốt cháy cùng với nhiên liệu. Đó là kiểu bôi trơn tiêu hao toàn bộ nên dầu nhớt cần được bổ sung liên tục. Dầu nhớt 2T cần phải lỏng để dễ trộn lẫn với xăng (vì vậy trong thành phần dầu 2T có dung môi). Dầu 2T còn  phải cháy sạch để ít tạo cặn làm bẩn bou-gi, pít-tông, xéc măng và tắc ống xả khí thải (ống pô) nên các phụ gia dùng cho dầu 2T cũng khác với dầu 4T.
Nếu dùng dầu 2T cho xe 4T thì động cơ sẽ bị nóng hơn, mài mòn nhiều hơn và các phốt dầu có thể bị hỏng vì dung môi.
Ngược lại nếu dùng dầu 4T cho xe 2T thì động cơ sẽ bị đóng nhiều cặn, dẫn đến mài mòn và hư hỏng nặng cho động cơ trong thời gian ngắn. 

Có thể dùng dầu nhớt xe máy tay ga (scooter) 4 thì cho xe máy số 4 thì được không ? và ngược lại ?
Xe máy tay ga vận hành nóng hơn, truyền động vô cấp bằng dây đai (không có hộp số bánh răng) và ly hợp khô; trong khi đó xe số truyền động bằng bánh răng và ly hợp ướt (có dầu).
Dầu nhớt dùng cho xe tay ga (Scooter Oil) được thiết kế để phát huy tính năng vận hành của xe : tăng tốc nhanh, phát huy tối đa công suất, làm mát động cơ tốt hơn và giảm tiêu hao nhiên liệu. Do đó Scooter Oil thường là dầu đa cấp lỏng và có đặc tính ma sát thấp (phù hợp với tiêu chuẩn JASO MB ).
Như vậy sử dụng Scooter Oil cho xe số sẽ có thể làm trượt ly hợp (vì giảm ma sát ) khiến tổn hao công suất động cơ truyền ra bánh xe, xe sẽ không tăng tốc/giảm tốc tốt và có thể làm ly hợp chóng hỏng.
Dầu nhớt dùng cho xe số phải cân đối tính năng bôi trơn tốt cho cả động cơ, ly hợp và hộp số nên phải có đặc tính ma sát cao hơn (phù hợp với tiêu chuẩn JASO MA ) để ly hợp không bị trượt, phụ gia cực áp và chống mài mòn để bảo vệ tốt cho hộp số. Nếu dùng dầu nhớt xe số cho xe tay ga thì không có hại cho động cơ, tuy nhiên sẽ không phát huy tối đa tính năng vận hành của xe tay ga như đã nói trên.

Lượng nhớt thay cho xe như thế nào thì vừa đủ ? Thừa nhớt hay thiếu nhớt có hại gì cho động cơ ?
Dầu nhớt xe máy được sản xuất với các cỡ bao bì 0,7 lít, 0,8 lít và 1 lít để phù hợp với yêu cầu của nhiều loại động cơ có dung tích khác nhau. Dung tích nhớt được hãng xe máy ghi rõ trong “Tài liệu hướng dẫn cho người sử dụng” (Owners Manual).
Khi thay nhớt động cơ nên chọn loại bao bì thích hợp để tránh bị thừa nhớt hoặc thiếu nhớt. Cách đơn giản nhất để kiểm tra mực nhớt là sử dụng que thăm nhớt : mực nhớt thích hợp phải ở trong khoảng “thấp” và “cao” của que thăm nhớt.
Xe thừa nhớt sẽ nặng máy, khiến cho máy nóng hơn và nhớt có thể bị đẩy nhiều lên buồng đốt làm động cơ bị đóng cặn pít-tông nhiều hơn. Xe thiếu nhớt sẽ thiếu bôi trơn, dầu bị nổi bọt, làm nóng máy và gây mài mòn nhiều.

Lưu ý: dung tích nhớt khi rã máy nhiều hơn khi thay nhớt, vd : đối với xe Honda Wave S dung tích nhớt khi rã máy là 0,9 lít, khi thay nhớt là 0,7 lít. Như vậy khi thay nhớt lượng nhớt cũ vẫn còn trong máy đến gần 20% mà không xả ra hết được.

Dầu nhớt dùng bao lâu thay thì vừa ? Thời gian sử dụng dầu có phụ thuộc chất lượng dầu hay không ?
Trong quá trình sử dụng dầu nhớt sẽ bị biến chất do nhiệt (ôxi hoá, nhiệt phân), do tạp nhiễm (bụi, nước, nhiên liệu) và do phụ gia bị tiêu hao nên sau một thời gian sẽ không còn đảm bảo tính năng bôi trơn và bảo vệ động cơ, vì thề cần xả bỏ và thay mới. Như vậy thời gian sử dụng dầu dài hay ngắn tuỳ thuộc vào chất lượng dầu, điều kiện làm việc của động cơ và điều kiện môi trường chung quanh.
Định kỳ thay dầu thường được nhà sản xuất xe khuyến cáo theo thời gian hoặc theo quãng đường, tuỳ theo giới hạn nào đến trước, trong điều kiện bình thường và với loại dầu được chỉ định mà người sử dụng cần tuân theo. Tuy nhiên trong điều kiện vận hành khắc nghiệt hoặc môi trường bất lợi, dầu cần được thay sớm hơn định kỳ hướng dẫn.

Việc kéo dài thời gian thay dầu quá lâu có hại gì cho động cơ không ?
- Kéo dài thời gian thay dầu quá mức sẽ làm cho động cơ bị mài mòn nhiều, đóng cặn bẩn và giảm công suất.
- Trong trường hợp phải kéo dài thời gian sử dụng dầu (không có dầu để thay hoặc quên thay dầu hoặc xe không chạy trong một thời gian dài) thì trước khi thay dầu mới cần làm sạch động cơ bằng dầu súc rửa (Flushing Oil).

Công dụng của dầu bôi trơn


Dầu bôi trơn có nhiều công dụng, trong đó có một số công dụng quan trọng nhất sau đây:

Công dụng 1: 


Bôi trơn các bề mặt có chuyển động trượt giữa các chi tiết nhằm giảm ma sát do đó giảm mài mòn, tăng tuổi thọ của chi tiết. Do vậy tổn thất cơ giới trong động cơ giảm, và hiệu suất sẽ tăng tức là tăng tính kinh tế của động cơ.






Công dụng 2:
Rửa sạch bề mặt ma sát của các chi tiết.
Trên bề mặt ma sát, trong quá trình làm việc thường có các vẩy rắn tróc ra khỏi bề mặt. Dầu bôi trơn sẽ cuốn trôi các vảy tróc sau đó được giữ lại ở các phần tử lọc của hệ thống bôi trơn, tránh cho bề mặt làm việc bị cào xước. Vì vậy, khi động cơ chạy rà sau khi lắp ráp, sửa chữa, khi đó còn rất nhiệu mạt kim loại còn sót lại trong quá trình lắp ráp và nhiều vẩy rắn bị tróc ra khi chạy rà, do vậy phải dùng dầu bôi trơn có độ nhớt nhỏ để tăng khả năng rửa trôi các mạt bẩn trên bề mặt.

Công dụng 3:
 Làm mát một số chi tiết.
Do ma sát tại các bề mặt làm việc như Piston - xi lanh, trục khuỷu - bạc lót... sinh nhiệt. Mặt khác, một số chi tiết như Piston, vòi phun... còn nhận nhiệt của khí cháy truyền đến. Do đó nhiệt độ một số chi tiết rất cao, có thể phá hỏng điều kiện làm việc bình thường của động cơ như bị gãy, bị kẹt, giảm độ bền của các chi tiết. Nhằm làm nhiệt độ của các chi tiết này, dầu từ hệ thống bôi trơn có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ chi tiết được dẫn đến các chi tiết có nhiệt độ cao để tải (mang) nhiệt đi.


Công dụng 4:
  Bao kín khe hở giữa các chi tiết như cặp Piston - xi lanh - xecment, vì vậy khi lắp ráp cụm chi tiết này phải bôi dầu vào rãnh xecment và bề mặt xi lanh.

Công dụng 5: 
Chống ôxy hóa (kết gỉ) bề mặt chi tiết nhờ những chất phụ gia trong dầu
Công dụng 6:
 Rút ngắn quá trình chạy rà động cơ.
Khi chạy rà động cơ phải dùng dầu bôi trơn có độ nhớt thấp. Ngoài ra, dầu còn được pha một số chất phụ gia đặc biệt có tác động làm mềm tổ chức tế vi kim loại một lớp rất mỏng trên bề mặt chi tiết. Do đó các chi tiết nhanh chóng rà khớp với nhau rút ngắn thời gian và chi phí chạy rà.
Một số thông số sử dụng của dầu bôi trơn
Trên bao bì sản phầm dầu bôi trơn như can nhựa, thùng phuy... các loại đều ghi rõ ký hiệu thể hiện tính năng và phạm vi sử dụng của từng loại dầu. Hiện nay qui cách kỹ thuật chủ yếu dừa trên các tiêu chuẩn của các Tổ chức Hoa Kỳ. Khi mua nên dựa vào 2 chỉ số quan trọng là SAE và API.
Chỉ số SAE:






Chỉ số SAE là chỉ số phân loại dầu theo độ nhớt ở 100oC và -18oC của Hiệp hội kỹ sư ô tô Hoa Kỳ (Society of Automobile Engineers) ban hành tháng 6 năm 1989. Tại một nhiệt độ nhất định, ví dụ như ở 100oC chỉ số SAE lớn tức là độ nhớt của dầu cao và ngược lại. Các phân loại của SAE tùy thuộc vào sản phẩm dầu đó là đơn cấp hay là đa cấp.
- Loại đơn cấp: Là loại chỉ có một chỉ số độ nhớt, ví dụ SAE40, SAE50, SAE10W, SAE20W. Cấp độ nhớt có chữ W (có nghĩa là Winter: mùa đông). Dựa trên chỉ số độ nhớt có nhiệt độ thấy tối đa (Độ nhớt có nhiệt độ khởi động từ-30oC đến -5oC). Để xác định nhiệt độ khởi động đi theo các ký từ đó quí khách chỉ cần lấy 30 trừ đi các số đó nhưng theo nhiệt độ âm.
Ví dụ: Dầu SAE10W sẽ khởi động tốt ở -20oC hoặc SAE15W sẽ khởi động tốt ở -15oC hoặc SAE20W ở -10oC...
Còn chỉ số độ nhớt không có chữ W chỉ dựa trên cơ sở độ nhớt ở 100oC.
- Loại đa cấp: Là loại có 2 chữ số độ nhớt ví dụ như SAE15W-40, SAE20W-50. Ở nhiệt độ thấp (mùa đông) có cấp độ nhớt giống như loại đơn cấp: SAE15W, SAE20W còn ở nhiệt độ cao có độ nhớt cùng loại với loại đơn cấp SAE40; SAE50. Dầu có chỉ số độ nhớt đa cấp có phạm vi nhiệt độ môi trường sử dụng rộng hơn so với loại đơn cấp. Các chỉ số càng to thì dầu có độ nhớt càng lớn và ngược lại. Ví dụ dầu nhớt đơn cấp SAE-40 dùng cho môi trường có nhiệt độ từ 26 đến 42oC, trong khi dầu nhớt đa cấp 10W/40 có thể sử dụng ở môi trường có nhiệt độ thay đổi rộng hơn từ 0 đến 40oC. Dầu thường dùng ở nước ta là loại SAE 20W-50 hoặc 15W-40.
Chỉ số API
Chỉ số API là chỉ số đánh giá chất lượng dầu nhớt của viện dầu mỡ Hoa Kỳ (American Petroleum Institute). API phân ra hai loại dầu chuyên dụng và dầu đa dụng.
- Dầu chuyên dụng: là loại dầu chỉ dùng cho một trong 2 loại động cơ xăng hoặc diesel. Cấp S dùng để đổ cho động cơ xăng (ví dụ: API-SH) và cấp C dùng để dùng cho động cơ diesel (ví dụ API-CI 4). Chữ thứ 2 sau S hoặc C chỉ cấp chất lượng tăng dần theo thứ tự chữ cái. Càng về sau chất lượng sản phẩm càng tốt do các nhà sản xuất phải thêm vào những chất phụ gia đặc biệt để thích nghi với những công nghệ động cơ mới.
- Dầu đa dụng: Là loại dầu bôi trơn có thể dùng cho cả động cơ xăng và động cơ diesel. Trên các sản phẩm dầu động cơ thương mại, các nhà sản xuất thường ghi đầy đủ cách phân loại này. Ví dụ: dầu động cơ có chỉ số API SG/CD , có nghĩa là dầu dùng cho động cơ xăng có cấp chất lượng G và dùng cho động cơ diesel với cấp chất lượng D. Chỉ số dùng cho động cơ nào (S hay C) viết trước dấu "/" có nghĩa ưu tiên dùng cho động cơ đó. Ví dụ này thì ưu tiên dùng cho động cơ xăng khi sử dụng dầu phải tuân thủ hướng dẫn của nhà chế tạo động cơ về chỉ số SAE, API và thời gian thay dầu.

5 điều cần lưu ý khi thay nhớt xe máy

Thay nhớt là công việc cần làm để giúp êm máy, nhạy xe. Tuy không trực tiếp thực hiện nhưng với 5 lưu ý nhỏ sau đây, người dùng sẽ có thể giám sát hiệu quả quá trình thay nhớt, đảm bảo xe được thay nhớt đúng loại và đúng chất lượng.


Kiểm tra nhớt trước khi thay
Sau khi động cơ đã dừng hoạt động từ 30 đến 60 phút, dùng kìm lót mở que thăm nhớt. Nếu que không ướt, nằm dưới mực có đánh dấu X, đồng nghĩa với việc hết nhớt.
Nhỏ một giọt nhớt lên bưởng máy rồi quan sát, nếu nhớt còn màu vàng nhạt, loãng to ra từ từ là còn sử dụng được. Ngược lại, nhớt có màu xám đen, loãng ra nhanh chóng thì phải thay ngay.
Theo lời khuyên của các chuyên gia, thời gian thay nhớt lý tưởng là sau khi xe chạy được 2.000 km đối với mô tô đời mới và từ 1.000 km – 1.500 km đối với xe tay ga. Tuy nhiên, thời gian này có thể rút ngắn tùy theo tuổi thọ xe và môi trường sử dụng.
Tháo hết nhớt cũ, rửa sạch lọc thô
Nhớt cũ chứa nhiều tạp chất, mạt kim loại sẽ gây hư hại động cơ nên cần phải được tháo sạch sẽ. Cần nghiêng xe cho nhớt còn đọng ở những chi tiết máy chảy ra hoàn toàn, kế tiếp là dùng vòi hơi xịt vào trong lốc máy cho nhớt văng ra sạch.
Sau đó, lọc thô và lọc tinh được rửa sạch bằng dầu diesel và dùng vòi hơi với áp lực nhẹ thổi hết các mạt sắt, cáu bẩn ra khỏi lọc rồi lắp lại cẩn thận đúng vị trí, tránh rò rỉ nhớt. Nếu xe chạy được 6.000 km thì nên thay lọc tinh mới.
Chọn nhớt phù hợp với xe và đúng dung tích
Theo ông Mã Kim So - tay đua kỳ cựu đồng thời là “bậc thầy” sửa xe máy cho biết, người dùng nên sử dụng đúng loại nhớt dành cho loại xe của mình. Ông phân tích: “Xe tay ga vận hành nóng hơn, truyền động vô cấp bằng dây đai và ly hợp khô nên nhớt được thiết kế để phát huy tính năng vận hành của xe: tăng tốc nhanh, tối đa công suất, làm mát động cơ và giảm tiêu hao nhiên liệu, ví dụ như Shell Advance AX7 Scooter 10W-40, loại dầu bán tổng hợp cho động cơ xe tay ga 4 thì. Trong khi đó xe số truyền động bằng bánh răng và ly hợp ướt nên nhớt dùng cho xe này phải phải có đặc tính ma sát cao hơn, cân đối tính năng bôi trơn tốt cho cả động cơ, ly hợp và hộp số, loại dầu gốc khoáng cao cấp cho động cơ xe số 4 thì đời mới”.

Người dùng nên yêu cầu được tư vấn về nhớt trước khi thay
Bên cạnh đó, dầu nhớt xe máy được sản xuất với các bao bì 0,7 lít, 0,8 lít và 1 lít để phù hợp với yêu cầu dung tích nhiều loại động cơ khác nhau. Khi thay nhớt, người dùng nên chọn loại thích hợp để tránh thừa hoặc thiếu nhớt. Vì xe thừa nhớt sẽ nặng máy, khiến máy nóng hơn, còn xe thiếu nhớt sẽ thiếu bôi trơn, dầu bị nổi bọt, làm nóng máy, gây mài mòn nhiều.
Kiểm tra nhãn mác và niêm phong
Đọc kỹ nhãn chai cũng là một công việc quan trọng để. Các thông tin mà người dùng nên quan tâm như thương hiệu, loại sản phẩm, dung tích, hạn sử dụng,… nhằm đảm bảo lựa chọn đúng sản phẩm chất lượng và phù hợp với xe.
Chai nhớt mới phải được niêm phong hai lớp: nắp nhựa và màng seal phủ kín miệng chai. Người dùng cần lưu ý về vấn đề này và kiểm tra niêm phong kỹ trước khi yêu cầu nhân viên đổ nhớt vào xe.


Chai nhớt mới sẽ có màng seal niêm phong kín miệng chai
Đảm bảo nhớt chảy đều trong động cơ
Sau khi cho nhớt mới vào, xe cần được nghiêng sang trái, phải vài giây để nhớt chảy đều, kế tiếp là đạp cần khởi động 5-7 lần (không lắp chìa khóa) để bơm dầu tới các chi tiết máy. Tiếp theo, mở chìa khóa, cho máy nổ khởi động vài phút trước khi chạy. Cuối cùng, nhớ lau sạch các vết nhớt dính trên máy để tránh bụi bẩn bám xung quanh.

ASTM là gì ? ASTM Với Ngành Dầu Nhớt

Cụm từ "ASTM" khá quen thuộc với các nhà khoa học, đặc biệt là trong các lĩnh vực phân tích chất lượng các sản phẩm. Vậy ASTM là gì?được sử dụng như thế nào?
ASTM, là viết tắt của cụm từ “American Society for Testing and Materials”, Hiệp hội vật liệu và thử nghiệm Hoa Kỳ, là tổ chức tiêu chuẩn quốc tế phát triển và đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các hệ thống, sản phẩm, dịch vụ và nguyên vật liệu. Trụ sở chính đặt ở Conshohocken, Pennsylvania, cách Philadelphia 5 dặm về phía Tây Bắc.
Tổ chức quốc tế ASTM đóng vai trò quan trọng là hệ thống thông tin hướng dẫn thiết kế, sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế toàn cầu.




ASTM được thành lập cách đây 1 thế kỷ (1898) khi một nhóm các nhà khoa học và kỹ sư đường sắt làm việc cùng nhau. Công việc của họ đã đưa đến sự tiêu chuẩn hóa về thép được sử dụng xây dựng đường ray với mục đích cuối cùng là tăng cường sự an toàn cho mọi người. Sự phát triển của công nghiệp, môi trường và chính sách quản lí đã tạo ra các yêu cầu tiêu chuẩn mới. ASTM đáp ứng yêu cầu với các tiêu chuẩn thống nhất để sản xuất và cung cấp các dịch vụ an toàn hơn, hiệu quả hơn và tốn ít chi phí. Ngày nay, ASTM tiếp tục đóng vai trò đi đầu trong việc tiêu chuẩn hóa các yêu cầu của thị trường toàn cầu.
ASTM ra đời trước các tổ chức tiêu chuẩn hóa khác như: BSI (1901), DIN (1917) và AFNOR (1926). ASTM có vai trò ảnh hưởng so với các tổ chức tiêu hóa khác và là tổ chức tiêu chuẩn hóa lớn nhất thế giới. Với qui trình thống nhất, ASTM hỗ trợ hàng ngàn ủy ban kỹ thuật tự nguyện với hơn 12000 tiêu chuẩn.
Hàng năm, ASTM xuất bản cuốn “Annual Book of ASTM Standards” với đĩa CD và phiên bản online.
Năm 2001, ASTM đổi tên thành ASTM International để thể hiện tính toàn cầu về tiêu chuẩn.
Năm 2005, ASTM kết hợp với Citation Technologies, tạo ra một thư viện online cho các tiêu chuẩn về môi trường.
Năm 2008, ASTM xuất bản các tiêu chuẩn về tính năng kỹ thuật của nhiên liệu Biodiesel.
Năm 2009, các tổ chức phát triển các tiêu chuẩn AAMI, ANSI, ASTM và DIN kết hợp với nhau tạo ra một dữ liệu về các tiêu chuẩn về thiết bị y tế..
Các tiêu chuẩn
Các tiêu chuẩn do ASTM International tạo ra có 6 chủ đề chính:
+ Tiêu chuẩn về tính năng kỹ thuật.
+ Tiêu chuẩn về phương pháp kiểm nghiệm, thử nghiệm
+ Tiêu chuẩn về thực hành.
+ Tiêu chuẩn về hướng dẫn.
+ Tiêu chuẩn về phân loại.
+ Tiêu chuẩn về các thuật ngữ.

Cuốn sách “The Annual Book of ASTM Standards” bao gồm 15 lĩnh vực:

1. Các sản phẩm sắt thép
2. Các sản phẩm kim loại màu
3. Qui trình phân tích và phương pháp kiểm tra kim loại
4. Xây dựng
5. Các sản phẩm dầu mỏ, dầu nhờn và nhiên liệu khoáng
6. Sơn, hợp chất thơm và các hợp chất phủ
7. Dệt may
8. Nhựa Plastics
9. Cao su
10. Điện tử và cách điện
11. Công nghệ môi trường và nước
12. Năng lượng địa nhiệt, mặt trời và hạt nhân
13. Dịch vụ và dụng cụ y tế
14. Thiết bị và phương pháp nói chung
15. Các sản phẩm nói chung, hóa học và sản phẩm sử dụng cuối cùng
phương pháp thử ASTM trong ngành dầu nhờn,dầu cách điện


TT
LĨNH VỰC THỬ NGHIỆM
TÊN PHƯƠNG PHÁP
PHƯƠNG PHÁP THỬ
1.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định tỷ trọng của các sản phẩm dầu mỏ dạng lỏng
Standard Practicle for density, relative density (Specific gravity), or API Gravity of crude petroleum and liquid petroleum product by hydrometer method
ASTM D 1298-99

2.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định độ nhớt động học của các chất lỏng trong suốt và đục
Standard test method for Kinematic viscosity of transparent and Opaque liquids ( the calculation of dynamic viscosity)
ASTM D 445-97
3.
Dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định chỉ số độ nhớt từ độ nhớt động học tại 400C và 100oC
Standard Practicle for calculating viscosity index from Kinematic viscosity at 40 and 100 degree C
ASTM D 2270-98

4.
Dầu nhờn và nhựa đường gốc dầu mỏPhương pháp xác định điểm chớp cháy cốc hở
Standard test method for flash and fier point by Cleveland Open Cup
ASTM D 92-98
5.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏ và mỡ bôi trơnPhương pháp xác định trị số kiềm của các sản phẩm dầu mỏ bằng chuẩn độ điện thế
Standard test method for Base number of Petroleum product by Potentiometric Perchloric Acide Titration
ASTM D 2896-96

6.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏ và mỡ bôi trơnPhương pháp xác định trị số axit của các sản phẩm dầu mỏ bằng chuẩn độ điện thế
Standard test method for Acid number of Petroleum product by Potentiometric Titration
ASTM D 664-95
7.
Dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định hàm lượng Ba, Ca, Mg, Zn trong dầu bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử
Standard test method for analysis of Barium, Calcium, Magnesium and Zinc in Unused lubricating oils by Atomic absorption spectrometry
ASTM D 4628-97
8.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định nhiệt độ đông đặc của các sản phẩm dầu mỏ

1.1.1.1 Standard test method for Pour point of petroleum products

ASTM D 97-96
9.
Dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định đặc tính tạo bọt của dầu bôi trơn
Standard test method for Foaming characteristics of lubricating oil
ASTM D 892-98
10.
Nhiên liệu, dầu nhờn và nhựa đường gốc dầu mỏPhương pháp xác định hàm lượng nước trong các sản phẩm dầu mỏ và nhựa đường bằng chưng cất
Standard test method for water in petroleum product and bituminous materials by distilation
ASTM D 95-99
11.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định ăn mòn tấm đồng của các sản phẩm dầu mỏ
Standard test method for Detection of Copper corrosion from petroleum products by copper strip tarnish test
ASTM D 130-00

12.
Nhiên liệu, dầu nhờn gốc dầu mỏPhương pháp xác định màu ASTM của các sản phẩm dầu mỏ
Standard test method for ASTM color petroleum products (ASTM color scale)
ASTM D 1500-98
13.
Nhựa đường đặcPhương pháp xác định độ kim lún của nhựa đường

1.1.1.2 Standard test method for penetration of bituminous materials

ASTM D5-95







Mất nhãn hiệu là mất thị trường


Đó là khẳng định của TS. Trần Lê Hồng - Cục Sở hữu Trí tuệ tại Hội thảo “Thương hiệu mạnh – Lợi thế cạnh tranh trong kinh tế hội nhập” do VCCI và Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp tổ chức.
Theo TS. Trần Lê Hồng, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nỗ lực trên thị trường trong nước mà còn đang vươn ra thị trường thế giới. Để thành công, các doanh nghiệp phải quan tâm giải quyết nhiều vấn đề, trong đó không thể bỏ qua hay xem nhẹ việc bảo hộ nhãn hiệu do vai trò của nó đối với các hoạt động kinh doanh và chính doanh nghiệp như một loại tài sản trí tuệ có giá trị.
Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến việc bảo hộ nhãn hiệu làm cơ sở cho các hoạt động thương hiệu của doanh nghiệp.
Không ít các doanh nghiệp thờ ơ với các hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái, không có những hoạt động tích cực hướng đến việc đảm bảo quyền của mình đối với nhãn hiệu, chỉ khi nhãn hiệu của mình đã bị doanh nghiệp khác hoặc các chủ thể nước ngoài chiếm đoạt mới “tỉnh giấc” để đổi mới cách tiếp cận với việc bảo hộ nhãn hiệu, ví dụ như trường hợp của Công ty Trung Nguyên, Tổng công ty dầu khí Việt Nam, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam v.v.
Điều đáng mừng là ngày càng nhiều doanh nghiệp đã nhận ra điều này thể hiện qua tỷ lệ nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam đăng ký tăng nhanh qua các năm: Năm 2007 số nhãn hiệu được đăng ký tăng 68% từ 6.335 lên 10.660; Năm 2008 tiếp tục tăng 49%, lên 15.826.
Sự cần thiết của việc bảo hộ nhãn hiệu
TS. Trần Lê Hồng khẳng định: “Các nhãn hiệu thực chất là diện mạo của doanh nghiệp”. Chứng minh cho luận điểm của mình, ông Hồng lập luận, nhãn hiệu của doanh nghiệp cho phép khách hàng phân biệt được sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác, qua đó tạo cho doanh nghiệp có khả năng bán ra thị trường một cách tốt hơn hàng hóa hoặc dịch vụ của mình.
Nhưng nhãn hiệu không chỉ được sử dụng như dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp mà còn là sự đảm bảo về chất lượng trước sau như một. Một khách hàng nếu đã hài lòng với chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp nào đó thì sẽ tiếp tục mua nó dựa vào chất lượng mong đợi nhờ vào nhãn hiệu đã biết.
“Vì vậy, doanh nghiệp nên chú tâm tới việc lựa chọn và thiết kế một nhãn hiệu phù hợp, nhất là bảo hộ nó, sử dụng nó một cách thận trọng trong quảng cáo và ngăn chặn những người khác sử dụng bất hợp pháp hoặc làm sai lệch nhãn hiệu đó” – Ông nhấn mạnh.
Ông Hồng cũng cho biết thêm về sự cần thiết của việc bảo hộ nhãn hiệu đó là: “Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho phép doanh nghiệp có thể tối đa hóa sự khác biệt của sản phẩm, quảng cáo và tiếp thị để từ đó nâng cao khả năng nhận biết sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp tại các thị trường quốc tế đồng thời thiết lập mối liên hệ trực tiếp với khách hàng nước ngoài”. 
Tùy thuộc vào tính chất dịch vụ, một doanh nghiệp có thể thỏa thuận chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu với các công ty trong và ngoài nước giúp có thêm lợi nhuận từ nhãn hiệu. Tương tự như vậy, việc chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu được thực hiện cả cho hàng hóa. Không có gì là lạ khi các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ tại thị trường trong nước hoặc xuất khẩu những mặt hàng không có nhãn hiệu sẽ phải đối mặt với những bất lợi như:
·Lợi nhuận thấp hơn do khách hàng đòi hỏi giá thấp hơn vì các sản phẩm không có nhãn hiệu.
· Không có được sự tín nhiệm của khách hàng vì họ không thể nhận biết sản phẩm và phân biệt được với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
· Khó khăn trong tiếp thị và quảng cáo sản phẩm hoặc dịch vụ ở nước ngoài vì không có biểu tượng phù hợp hay dấu hiệu nhận biết dễ dàng để liên hệ sản phẩm/ dịch vụ với doanh nghiệp vì việc tiếp thị một sản phẩm không có nhãn hiệu rõ ràng là khó hơn nhiều.
Một lần nữa ông khẳng định: “Bảo hộ nhãn hiệu đặc biệt hữu ích và cần thiết với các doanh nghiệp Việt Nam do hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới tham gia thị trường khi tham vọng củng cố và mở rộng thị phần là một yêu cầu khách quan và hết sức bức thiết.”
Thực tế với mỗi doanh nghiệp, việc xây dựng và tạo lập uy tín cho nhãn hiệu của riêng mình đã khó nhưng việc giữ gìn, bảo vệ nó còn khó hơn nhiều nếu như không được đăng ký bảo hộ. “Nhãn hiệu có vị trí đặc biệt quan trọng và trở thành “linh hồn” của mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, nhiều người đã đúng khi khẳng định “Mất nhãn hiệu là mất thị trường”” – Ông Hồng nói.
DN nên quan tâm đối với việc đăng ký bảo hộ ở nước ngoài
Doanh nghiệp không chỉ nên quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ trong nước mà việc đăng ký bảo hộ ở nước ngoài cũng không kém phần quan trọng bởi việc bảo hộ nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của nước thực hiện bảo hộ. “Để mất hay tranh chấp đối với nhãn hiệu ở trong nước đã phức tạp và tốn kém cho doanh nghiệp, nhưng điều đó sẽ phức tạp và tốn kém gấp nhiều lần nếu như xảy ra ở nước ngoài” – TS Hồng cho biết.
Ông Hồng lấy dẫn chứng, một khi nhãn hiệu không được đăng ký bảo hộ kịp thời ra nước ngoài mà để đối tác hay đối thủ chiếm đoạt mất thì doanh nghiệp sẽ gánh chịu những hậu quả rất nặng nề. Điều dễ nhận thấy nhất là nếu hàng hoá chưa xuất vào thị trường đó, thì việc xuất hàng sẽ không thực hiện được, doanh nghiệp sẽ phải thay đổi nhãn hiệu và chi phí tiếp thị mới.
Trong trường hợp hàng hoá của doanh nghiệp đang được xuất vào thị trường đó, người chiếm đoạt nhãn hiệu có thể sẽ tạo ra những rào cản không nhỏ cho doanh nghiệp khi yêu cầu pháp luật can thiệp và hàng hoá nhập khẩu có thể bị bắt giữ, xử phạt. Trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp sẽ luôn phải đối phó với khả năng mất luôn thị phần.
Ngoài ra, khả năng những người chiếm đoạt nhãn hiệu sẽ lợi dụng để sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam cũng rất cao, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tại chính thị trường trong nước.
Để có thể “đòi lại” nhãn hiệu của mình, doanh nghiệp sẽ rất vất vả, khó khăn và thiệt hại đủ đường.Nếu việc DN bảo hộ nhãn hiệu kịp thời thì DN có thể chủ động tiếp thị, quảng cáo sản phẩm đến thị trường, xúc tiến thương mại, khuếch trương hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính việc bảo hộ này là cơ sở pháp lý quan trọng để đấu tranh với hàng giả, hàng nhái, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
“Nói một cách ngắn gọn, giải pháp cho các doanh nghiệp muốn giữ vững thị trường, ổn định xuất khẩu, không còn cách nào khác là đánh giá đúng tình hình kinh doanh của mình để chủ động trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, đảm bảo cho các hoạt động thương hiệu và phát triển kinh doanh cả trong và ngoài nước.” – ông Hồng khẳng định. 

Tạo dựng nhân cách cho thương hiệu

Nhân cách thương hiệu (Brand Personality) là tấm gương phản chiếu mà thông qua đó khách hàng nhìn ra nhân cách của chính họ và tự hào khi giao dịch với thương hiệu.
Những giá trị nhân sinh học được tôn vinh không qua hành xử của thương hiệu phải xuất phát từ những giá trị được khách hàng chọn làm mẫu mực cho chính họ.

Khi đó, nhân cách của thương hiệu mới chính là nhân cách của khách hàng. Đó là những đúc kết được GS.TS Tôn Thất Nguyễn Thiêm đưa ra tại hội thảo “Thấu hiểu nhân cách tiêu dùng để phát triển nhân cách thương hiệu” vừa diễn ra tại TPHCM tháng 9 vừa qua.

Nhân cách thương hiệu khác với cá tính hay tính cách của thương hiệu. Nếu nhân cách là cái “đức” bên trong để gia tăng sức hút giúp giũ chân khách hàng thế hiện ở những điều “chân, thiện, mỹ” mà thương hiệu mang đến cho xã hội và thị trường thì tính cách hay cá tính của thương hiệu là vẻ bề ngoài nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ để chinh phục các giác quan của người tiêu dùng.
 
 
Nếu chỉ tập trung vào vẻ hào nhoáng bên ngoài, thương hiệu nào cũng sẽ được vinh danh là “đẳng cấp, sang trọng, lịch lãm, thành đạt…” và tạo ra sự nhàm chán, vô vị. Vì thế, chú trọng những giá trị được khách hàng chọn lựa chính là cách tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững nhờ những giá trị nhân bản trường tồn.

Một thương hiệu có nhân cách phải hội tụ đủ cả ba yếu tố: đối xử đàng hoàng với người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và thấu hiểu người tiêu dùng.

Đối xử đàng hoàng với người lao động

Trong một thời gian dài, việc xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp gắn liền với phong trào đạt tiêu chuẩn ISO, rồi phong trào làm mới hệ thống nhận diện thương hiệu… Đến nay, đây được xem như những điều kiện tiền đề tất yếu để có một thương hiệu mạnh.
 
Để xây dựng được một thương hiệu “có tình người” doanh nghiệp cần hoàn thiện các quy trình tổ chức nhân sự, tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động khi làm việc, và xa hơn thế, phải quan tâm đến cả tương lai của người lao động. Tại Pháp, một cuộc điều tra năm 2003 cho thay 65% dân số sẵn sàng tẩy chay thương hiệu nào sử dụng lao động dưới 12 tuổi, 50% sẵn sàng ngưng sử dụng các thương hiệu sa thải hàng loạt công nhân nhằm mục đích tăng lợi nhuận. 
 
 
Tại Mỹ, một cuộc điều tra kéo dài từ 1993-1997 tại 10 thành phố lớn cho thấy 94% người tiêu dùng cảm thấy khó chịu và bất an khi hoạt động của doanh nghiệp chỉ vì mục đích lợi nhuận.

Thương hiệu có cá tính và tính cách rõ ràng là chưa đủ đối với xã hội bởi nó còn phải minh chứng cho việc góp phần phát huy tính nhân bản với đời sống cộng đồng. Nhân cách của một thương hiệu phải được khởi sự từ bên trong của doanh nghiệp, thể hiện ở sự tôn trọng và tạo điều kiện để phát huy năng lực và phẩm chất của người lao động.
Bảo vệ môi trường sinh thái

Vụ án Vedan xả nước thải làm Ô nhiễm sông Thị Vải cách đây hơn một năm là hồi chuông cảnh báo các doanh nghiệp phải có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống của con người. Gian dối về xử lý chất thải hay tạo ra sản phẩm gây hại cho môi trường là cách tàn phá những giá trị bền vững của thương hiệu. Xã hội càng phát triển, cuộc sống càng hiện đại, văn minh thì yếu tố môi trường và sức khỏe người tiêu dùng càng được đề cao.

Chính vì thế, các doanh nghiệp ngày nay còn hướng hoạt động kinh doanh theo “hành trình xanh”. Sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, tài trợ cho các dự án làm sạch môi trường, phát minh ra những nguồn năng lượng thay thế… là cách xây dựng và duy trì những giá trị trường tồn cho doanh nghiệp.
 
Hơn thế, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu rủi ro cho chính mình: khi các đối tác, khách hàng của doanh nghiệp biết và tin rằng trong mọi tình huống, doanh nghiệp vẫn xử sự đàng hoàng, đúng đắn, hướng đến các giá trị bền vững thì mối quan hệ sẽ được thiết lập trên nền tảng của sự tin tưởng. Sự tin tưởng này là cơ sở để giảm thiểu những rủi ro trong giao dịch. Và đây chính là nguồn lực vô hình làm gia tăng giá trị tài sản vật chất của doanh nghiệp.

Thấu hiểu người tiêu dùng

Doanh nghiệp cần tìm hiểu vì sao khách hàng hãnh diện khi liên hệ với thương hiệu. Muốn như vậy, cần thấu hiểu người tiêu dùng muốn thể hiện điều gì thông qua hành vi mua sắm. Khi lựa chọn một thương hiệu, khách hàng muốn người khác ngưỡng mộ mình, muốn khẳng định phong cách mua sắm hoặc thể hiện những mối quan hệ vượt ra khỏi hành vi mua hàng.
 
Nói cách khác, người mua muốn tên tuổi của mình gắn liền với tên tuổi của thương hiệu mà họ mua. Người tiêu dùng mua nước hoa No5, túi xách Louis Vuitton, mũ Hermès... không chỉ vì chất lượng tuyệt hảo của các sản phẩm này, mà còn bởi “nhân cách” của những thương hiệu này phù hợp với giá trị mà doanh nghiệp đề cao.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khi khách hàng trung thành với thương hiệu thì họ cũng buộc doanh nghiệp phải hành xử đúng theo nhân cách và giá trị mà thương hiệu là biểu tượng.

Thương hiệu Nike từng được ngưỡng mộ bởi thông điệp “Giúp con người bay lên nhờ đôi cánh của thần Nike”. Nhưng chỉ một vụ tai tiếng về hành hạ công nhân Việt Nam đã làm hỏng nhân cách của thương hiệu, bởi nó cho thấy Nike đã không trung thành với những giá trị nhân sinh mà mình đề cao.