Hiển thị các bài đăng có nhãn News brand. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn News brand. Hiển thị tất cả bài đăng

Mất nhãn hiệu là mất thị trường


Đó là khẳng định của TS. Trần Lê Hồng - Cục Sở hữu Trí tuệ tại Hội thảo “Thương hiệu mạnh – Lợi thế cạnh tranh trong kinh tế hội nhập” do VCCI và Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp tổ chức.
Theo TS. Trần Lê Hồng, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ nỗ lực trên thị trường trong nước mà còn đang vươn ra thị trường thế giới. Để thành công, các doanh nghiệp phải quan tâm giải quyết nhiều vấn đề, trong đó không thể bỏ qua hay xem nhẹ việc bảo hộ nhãn hiệu do vai trò của nó đối với các hoạt động kinh doanh và chính doanh nghiệp như một loại tài sản trí tuệ có giá trị.
Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến việc bảo hộ nhãn hiệu làm cơ sở cho các hoạt động thương hiệu của doanh nghiệp.
Không ít các doanh nghiệp thờ ơ với các hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái, không có những hoạt động tích cực hướng đến việc đảm bảo quyền của mình đối với nhãn hiệu, chỉ khi nhãn hiệu của mình đã bị doanh nghiệp khác hoặc các chủ thể nước ngoài chiếm đoạt mới “tỉnh giấc” để đổi mới cách tiếp cận với việc bảo hộ nhãn hiệu, ví dụ như trường hợp của Công ty Trung Nguyên, Tổng công ty dầu khí Việt Nam, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam v.v.
Điều đáng mừng là ngày càng nhiều doanh nghiệp đã nhận ra điều này thể hiện qua tỷ lệ nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam đăng ký tăng nhanh qua các năm: Năm 2007 số nhãn hiệu được đăng ký tăng 68% từ 6.335 lên 10.660; Năm 2008 tiếp tục tăng 49%, lên 15.826.
Sự cần thiết của việc bảo hộ nhãn hiệu
TS. Trần Lê Hồng khẳng định: “Các nhãn hiệu thực chất là diện mạo của doanh nghiệp”. Chứng minh cho luận điểm của mình, ông Hồng lập luận, nhãn hiệu của doanh nghiệp cho phép khách hàng phân biệt được sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác, qua đó tạo cho doanh nghiệp có khả năng bán ra thị trường một cách tốt hơn hàng hóa hoặc dịch vụ của mình.
Nhưng nhãn hiệu không chỉ được sử dụng như dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp mà còn là sự đảm bảo về chất lượng trước sau như một. Một khách hàng nếu đã hài lòng với chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp nào đó thì sẽ tiếp tục mua nó dựa vào chất lượng mong đợi nhờ vào nhãn hiệu đã biết.
“Vì vậy, doanh nghiệp nên chú tâm tới việc lựa chọn và thiết kế một nhãn hiệu phù hợp, nhất là bảo hộ nó, sử dụng nó một cách thận trọng trong quảng cáo và ngăn chặn những người khác sử dụng bất hợp pháp hoặc làm sai lệch nhãn hiệu đó” – Ông nhấn mạnh.
Ông Hồng cũng cho biết thêm về sự cần thiết của việc bảo hộ nhãn hiệu đó là: “Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho phép doanh nghiệp có thể tối đa hóa sự khác biệt của sản phẩm, quảng cáo và tiếp thị để từ đó nâng cao khả năng nhận biết sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp tại các thị trường quốc tế đồng thời thiết lập mối liên hệ trực tiếp với khách hàng nước ngoài”. 
Tùy thuộc vào tính chất dịch vụ, một doanh nghiệp có thể thỏa thuận chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu với các công ty trong và ngoài nước giúp có thêm lợi nhuận từ nhãn hiệu. Tương tự như vậy, việc chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu được thực hiện cả cho hàng hóa. Không có gì là lạ khi các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ tại thị trường trong nước hoặc xuất khẩu những mặt hàng không có nhãn hiệu sẽ phải đối mặt với những bất lợi như:
·Lợi nhuận thấp hơn do khách hàng đòi hỏi giá thấp hơn vì các sản phẩm không có nhãn hiệu.
· Không có được sự tín nhiệm của khách hàng vì họ không thể nhận biết sản phẩm và phân biệt được với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
· Khó khăn trong tiếp thị và quảng cáo sản phẩm hoặc dịch vụ ở nước ngoài vì không có biểu tượng phù hợp hay dấu hiệu nhận biết dễ dàng để liên hệ sản phẩm/ dịch vụ với doanh nghiệp vì việc tiếp thị một sản phẩm không có nhãn hiệu rõ ràng là khó hơn nhiều.
Một lần nữa ông khẳng định: “Bảo hộ nhãn hiệu đặc biệt hữu ích và cần thiết với các doanh nghiệp Việt Nam do hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới tham gia thị trường khi tham vọng củng cố và mở rộng thị phần là một yêu cầu khách quan và hết sức bức thiết.”
Thực tế với mỗi doanh nghiệp, việc xây dựng và tạo lập uy tín cho nhãn hiệu của riêng mình đã khó nhưng việc giữ gìn, bảo vệ nó còn khó hơn nhiều nếu như không được đăng ký bảo hộ. “Nhãn hiệu có vị trí đặc biệt quan trọng và trở thành “linh hồn” của mỗi doanh nghiệp trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, nhiều người đã đúng khi khẳng định “Mất nhãn hiệu là mất thị trường”” – Ông Hồng nói.
DN nên quan tâm đối với việc đăng ký bảo hộ ở nước ngoài
Doanh nghiệp không chỉ nên quan tâm đến việc đăng ký bảo hộ trong nước mà việc đăng ký bảo hộ ở nước ngoài cũng không kém phần quan trọng bởi việc bảo hộ nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của nước thực hiện bảo hộ. “Để mất hay tranh chấp đối với nhãn hiệu ở trong nước đã phức tạp và tốn kém cho doanh nghiệp, nhưng điều đó sẽ phức tạp và tốn kém gấp nhiều lần nếu như xảy ra ở nước ngoài” – TS Hồng cho biết.
Ông Hồng lấy dẫn chứng, một khi nhãn hiệu không được đăng ký bảo hộ kịp thời ra nước ngoài mà để đối tác hay đối thủ chiếm đoạt mất thì doanh nghiệp sẽ gánh chịu những hậu quả rất nặng nề. Điều dễ nhận thấy nhất là nếu hàng hoá chưa xuất vào thị trường đó, thì việc xuất hàng sẽ không thực hiện được, doanh nghiệp sẽ phải thay đổi nhãn hiệu và chi phí tiếp thị mới.
Trong trường hợp hàng hoá của doanh nghiệp đang được xuất vào thị trường đó, người chiếm đoạt nhãn hiệu có thể sẽ tạo ra những rào cản không nhỏ cho doanh nghiệp khi yêu cầu pháp luật can thiệp và hàng hoá nhập khẩu có thể bị bắt giữ, xử phạt. Trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp sẽ luôn phải đối phó với khả năng mất luôn thị phần.
Ngoài ra, khả năng những người chiếm đoạt nhãn hiệu sẽ lợi dụng để sản xuất hàng giả đưa vào Việt Nam cũng rất cao, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tại chính thị trường trong nước.
Để có thể “đòi lại” nhãn hiệu của mình, doanh nghiệp sẽ rất vất vả, khó khăn và thiệt hại đủ đường.Nếu việc DN bảo hộ nhãn hiệu kịp thời thì DN có thể chủ động tiếp thị, quảng cáo sản phẩm đến thị trường, xúc tiến thương mại, khuếch trương hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính việc bảo hộ này là cơ sở pháp lý quan trọng để đấu tranh với hàng giả, hàng nhái, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
“Nói một cách ngắn gọn, giải pháp cho các doanh nghiệp muốn giữ vững thị trường, ổn định xuất khẩu, không còn cách nào khác là đánh giá đúng tình hình kinh doanh của mình để chủ động trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, đảm bảo cho các hoạt động thương hiệu và phát triển kinh doanh cả trong và ngoài nước.” – ông Hồng khẳng định. 

Tạo dựng nhân cách cho thương hiệu

Nhân cách thương hiệu (Brand Personality) là tấm gương phản chiếu mà thông qua đó khách hàng nhìn ra nhân cách của chính họ và tự hào khi giao dịch với thương hiệu.
Những giá trị nhân sinh học được tôn vinh không qua hành xử của thương hiệu phải xuất phát từ những giá trị được khách hàng chọn làm mẫu mực cho chính họ.

Khi đó, nhân cách của thương hiệu mới chính là nhân cách của khách hàng. Đó là những đúc kết được GS.TS Tôn Thất Nguyễn Thiêm đưa ra tại hội thảo “Thấu hiểu nhân cách tiêu dùng để phát triển nhân cách thương hiệu” vừa diễn ra tại TPHCM tháng 9 vừa qua.

Nhân cách thương hiệu khác với cá tính hay tính cách của thương hiệu. Nếu nhân cách là cái “đức” bên trong để gia tăng sức hút giúp giũ chân khách hàng thế hiện ở những điều “chân, thiện, mỹ” mà thương hiệu mang đến cho xã hội và thị trường thì tính cách hay cá tính của thương hiệu là vẻ bề ngoài nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ để chinh phục các giác quan của người tiêu dùng.
 
 
Nếu chỉ tập trung vào vẻ hào nhoáng bên ngoài, thương hiệu nào cũng sẽ được vinh danh là “đẳng cấp, sang trọng, lịch lãm, thành đạt…” và tạo ra sự nhàm chán, vô vị. Vì thế, chú trọng những giá trị được khách hàng chọn lựa chính là cách tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững nhờ những giá trị nhân bản trường tồn.

Một thương hiệu có nhân cách phải hội tụ đủ cả ba yếu tố: đối xử đàng hoàng với người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và thấu hiểu người tiêu dùng.

Đối xử đàng hoàng với người lao động

Trong một thời gian dài, việc xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp gắn liền với phong trào đạt tiêu chuẩn ISO, rồi phong trào làm mới hệ thống nhận diện thương hiệu… Đến nay, đây được xem như những điều kiện tiền đề tất yếu để có một thương hiệu mạnh.
 
Để xây dựng được một thương hiệu “có tình người” doanh nghiệp cần hoàn thiện các quy trình tổ chức nhân sự, tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động khi làm việc, và xa hơn thế, phải quan tâm đến cả tương lai của người lao động. Tại Pháp, một cuộc điều tra năm 2003 cho thay 65% dân số sẵn sàng tẩy chay thương hiệu nào sử dụng lao động dưới 12 tuổi, 50% sẵn sàng ngưng sử dụng các thương hiệu sa thải hàng loạt công nhân nhằm mục đích tăng lợi nhuận. 
 
 
Tại Mỹ, một cuộc điều tra kéo dài từ 1993-1997 tại 10 thành phố lớn cho thấy 94% người tiêu dùng cảm thấy khó chịu và bất an khi hoạt động của doanh nghiệp chỉ vì mục đích lợi nhuận.

Thương hiệu có cá tính và tính cách rõ ràng là chưa đủ đối với xã hội bởi nó còn phải minh chứng cho việc góp phần phát huy tính nhân bản với đời sống cộng đồng. Nhân cách của một thương hiệu phải được khởi sự từ bên trong của doanh nghiệp, thể hiện ở sự tôn trọng và tạo điều kiện để phát huy năng lực và phẩm chất của người lao động.
Bảo vệ môi trường sinh thái

Vụ án Vedan xả nước thải làm Ô nhiễm sông Thị Vải cách đây hơn một năm là hồi chuông cảnh báo các doanh nghiệp phải có trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sống của con người. Gian dối về xử lý chất thải hay tạo ra sản phẩm gây hại cho môi trường là cách tàn phá những giá trị bền vững của thương hiệu. Xã hội càng phát triển, cuộc sống càng hiện đại, văn minh thì yếu tố môi trường và sức khỏe người tiêu dùng càng được đề cao.

Chính vì thế, các doanh nghiệp ngày nay còn hướng hoạt động kinh doanh theo “hành trình xanh”. Sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, tài trợ cho các dự án làm sạch môi trường, phát minh ra những nguồn năng lượng thay thế… là cách xây dựng và duy trì những giá trị trường tồn cho doanh nghiệp.
 
Hơn thế, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu rủi ro cho chính mình: khi các đối tác, khách hàng của doanh nghiệp biết và tin rằng trong mọi tình huống, doanh nghiệp vẫn xử sự đàng hoàng, đúng đắn, hướng đến các giá trị bền vững thì mối quan hệ sẽ được thiết lập trên nền tảng của sự tin tưởng. Sự tin tưởng này là cơ sở để giảm thiểu những rủi ro trong giao dịch. Và đây chính là nguồn lực vô hình làm gia tăng giá trị tài sản vật chất của doanh nghiệp.

Thấu hiểu người tiêu dùng

Doanh nghiệp cần tìm hiểu vì sao khách hàng hãnh diện khi liên hệ với thương hiệu. Muốn như vậy, cần thấu hiểu người tiêu dùng muốn thể hiện điều gì thông qua hành vi mua sắm. Khi lựa chọn một thương hiệu, khách hàng muốn người khác ngưỡng mộ mình, muốn khẳng định phong cách mua sắm hoặc thể hiện những mối quan hệ vượt ra khỏi hành vi mua hàng.
 
Nói cách khác, người mua muốn tên tuổi của mình gắn liền với tên tuổi của thương hiệu mà họ mua. Người tiêu dùng mua nước hoa No5, túi xách Louis Vuitton, mũ Hermès... không chỉ vì chất lượng tuyệt hảo của các sản phẩm này, mà còn bởi “nhân cách” của những thương hiệu này phù hợp với giá trị mà doanh nghiệp đề cao.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khi khách hàng trung thành với thương hiệu thì họ cũng buộc doanh nghiệp phải hành xử đúng theo nhân cách và giá trị mà thương hiệu là biểu tượng.

Thương hiệu Nike từng được ngưỡng mộ bởi thông điệp “Giúp con người bay lên nhờ đôi cánh của thần Nike”. Nhưng chỉ một vụ tai tiếng về hành hạ công nhân Việt Nam đã làm hỏng nhân cách của thương hiệu, bởi nó cho thấy Nike đã không trung thành với những giá trị nhân sinh mà mình đề cao. 

Phát triễn thương hiệu: Cần sự đầu tư bài bản

Xuất khẩu trực tiếp từ lâu vẫn là niềm ao ước của người Việt Nam. Tuy nhien điều đó không dễ vì hầu như doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường thế giới và không chủ động trong tiếp cận đối tác, thậm chí rất thiếu kỹ năng trong tham gia thị trường quốc tế.
Thực tế cho thấy, đại bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, thiếu sự gắn kết tập trung giữa các cơ sở sản xuất nên khó đáp ứng được những đơn hàng lớn.
 
Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp chưa có điều kiện và cũng chưa chú trọng đầu tư cho xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm và thương hiệu doanh nghiệp, nhất là việc tạo mẫu và thiết kế.
 
 
Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ. Hệ quả là rất nhiều hàng thủ công Việt Nam không có những công dụng rõ rệt và chưa hướng vào mục tiêu chiếm lĩnh một thị trường cụ thể nào.
 
Ví dụ, thị trường châu Phi và Tây Nam Á thường ưa chuộng những sản phẩm màu sắc đậm, hàng khổ to, thô ráp, không cần tinh xảo, phù hợp với thiên nhiên và không gian rộng. Thị trường Ả Rập thường không thích những sản phẩm có hình sư tử, hổ, báo, hươu nai vì không phù hợp với đặc trưng văn hóa nắng nóng sa mạc cát của vùng này. Nếu chúng ta cứ sao chép dập khuôn kiểu dáng giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc của Trung Quốc thì sẽ gặp những vấn đề rắc rối về mặt pháp lý và sở hữu trí tuệ.
Còn nếu chỉ làm theo mẫu mã của các nhà nhập khẩu nước ngoài thì ta sẽ bị thụ động, ỷ lại và trông chờ, và điều này chỉ mang lại những
 
Đó là chưa kể, thị hiếu con người luôn biến đổi theo thời gian, nếu các doanh nghiệp không chịu nghiên cứu mà cứ sử dụng các mẫu mã cũ sẽ rất dễ gây nhàm chán. Vì vậy, việc đưa ra được những sản phẩm độc đáo sẽ có tính quyết định quan trọng trong nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. 
 
Chủ động tìm thị trường
 
 Việc xuất khẩu qua trung gian đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sản xuất phải chấp nhận giá bán thấp, gây ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp và thu nhập người lao động, khó nắm bắt được nhu cầu khách hàng. Không chỉ mất chi phí trung gian mà các doanh nghiệp còn mất đi cơ hội được giới thiệu về sản phẩm của mình bởi vì sản phẩm xuất ra nước ngoài phải mang nhãn mác của các nhà phân phối lớn trên thế giới.   Theo một khảo sát của Trường Đại học Thương mại năm 2008, có tới 80% số hợp đồng xuất khẩu nông sản, thủ công mỹ nghệ được ký kết với nước ngoài là do đối tác tự tìm đến. Điều đó cho thấy, nếu các doanh nghiệp năng động hơn nữa trong việc tìm kiếm đối tác thì tiềm năng rất dồi dào.
Theo các chuyên gia, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần chủ động tìm kiếm qua các kênh làm việc trực tiếp hoặc qua các đoàn khảo sát, qua Thương vụ Việt Nam tại các nước hoặc qua các hội chợ, triển lãm, qua người thân, bạn bè đi du lịch, công tác ở nước ngoài... Đặc biệt là phải tìm được các kênh phân phối riêng bằng những mặt hàng đặc biệt với những mẫu mã độc đáo khác lạ, tạo sự khác biệt cho sản phẩm để nâng sức cạnh tranh trên thị trường.

NQ

Chuyên đề lốp xe

Tại sao lốp có thể nâng đỡ trọng lượng xe? Thật ra, lốp xe không trực tiếp nâng trọng lượng của xe. Lốp xe chỉ là một vật chứa không khí có áp suất cao. Chấp nhận quan điểm này, bạn sẽ dễ dàng hiểu được vấn đề. Bạn hãy làm một ví dụ nhỏ: nâng bánh xe lên và đo áp suất lốp. Sau đó so sánh với áp suất lốp khi không nâng bánh xe. Điều thú vị là áp suất sẽ không đổi.

Lốp xe cũng có gì đó giống như một quả bóng. Lốp xe cũng có phần giống như một quả bóng. Độ đàn hồi của lốp giúp áp suất không khí bên trong không đổi. Chính áp suất không khí trong lốp đã nâng đỡ xe.

Tại sao lốp bị nóng khi xe chạy?


Sau một chuyến đi dài hoặc chạy tốc độ cao thì lốp xe sẽ nóng hơn. Chúng ta vẫn sẽ tiếp tục giải thích với quan điểm lốp xe là một vật chứa không khí. Chúng ta có thể dễ dàng thấy được phần lốp xe phía dưới tiếp xúc với mặt đường sẽ bị biến dạng, còn phía trên thì không (xem hình 1). Khi xe chạy thì vị trí lốp tiếp xúc mặt đường liên tục thay đổi, do đó biên dạng lốp cũng liên tục chuyển từ trạng thái biến dạng sang trạng thái không biến dạng. Chính điều này làm gây ra nhiệt và làm nóng lốp. Gai lốp nóng lên bởi vì chúng cũng thay đổi hình dạng khi đi trên đường gồ ghề hoặc khi quay vô lăng.
Nhiệt độ chính là kẻ thủ lớn nhất của lốp. Nhiệt có thể làm yếu kết của của lốp gây ra hỏng hóc. Khi xe chạy trên đường trường với tốc độ càng cao hoặc tải trọng càng nặng thì lốp dễ hỏng hơn vì nhiệt tăng cao.

Tại sao cần phải tăng áp suất lốp khi xe chở nặng?


Hình minh họa.

Chúng ta đều biết là khi xe chở càng nặng thì phần lốp bên dưới (tiếp xúc mặt đường) sẽ càng bị biến dạng (xem hình), do đó nhiệt sinh ra sẽ càng nhiều. Nếu làm cho lốp xe ít biến dạng hơn (bằng cách tăng áp suất lốp chẳng hạn) thì lốp sẽ ít nóng hơn.

Tại sao áp suất lốp lại quan trọng đối với bạn?



Áp suất quá thấp (lốp non)


Hãy nhìn vào biểu đồ và tìm cột áp suất -20%, khi đó tuổi thọ của lốp giảm chỉ còn 85%. Việc bạn phải tốn thêm tiền chỉ là một tác hại, dưới đây là các tác hại khác của áp suất lốp quá thấp
·Lốp dễ hư hỏng do nhiệt
·Lốp phải hoạt động “vất vả” hơn khi bánh xe quay. Động cơ nặng hơn và tốn nhiều nhiên liệu hơn. Chỉ cần áp suất lốp thấp hơn một chút thì xe tiêu hao hơn 5% nhiêu liệu.
·Gai lốp nhanh bị hỏng hơn 25%, tùy thuộc độ “non” của lốp
·Tăng khả năng lốp mòn không đều và phải thay lốp sớm
·Việc điều khiển xe cũng bị ảnh hưởng. Tay lái nặng hơn
Đùa một chút: bạn hãy thử yêu cầu đại lý lốp xe bơm lốp thấp hơn 20% và nhìn vào lốp. Bạn sẽ thấy nó bình thường. Vì vậy áp suất lốp nên được kiểm tra bằng đồng hồ đo, mắt bạn sẽ không thể thay thế đồng hồ đo được!


Áp suất lốp quá cao

Dưới đây là một số tác hại do áp suất lốp quá cao:
·Xe không êm dịu
·Lốp dễ bị hỏng khi chạy trên đường xấu
·Phát sinh nhiều tiếng ồn khi lái
·Gai lốp mòn không đều, phải thay lốp sớm
·Tay lái nhẹ hơn, bánh xe đáp ứng tốt hơn. Đây là điểm tốt đối với một tay lái thể thao, nhưng bạn có thể gặp khó khăn với điều kiện đường ướt.

Làm sao để biết được áp suất lốp tiêu chuẩn?

Rõ ràng là áp suất lốp rất quan trọng đối với túi tiền của bạn cũng như sự an toàn. Vì vậy áp suất lốp bao nhiêu là đúng?
Tôi đã từng chứng kiến một cơ sở lốp xe đã bơm lốp đến áp suất ghi trên hông lốp. Điều này hoàn toàn sai. Áp suất ghi trên hông lốp là áp suất tối đa mà lốp chịu được chứ không phải áp suất tiêu chuẩn.
Các nhà sản xuất xe luôn dán một bảng áp suất lốp tiêu chuẩn trên xe (thường có màu vàng, được dán trên cột chữ B – xem hình) hoặc ghi trong sách hướng dẫn sử dụng.
Một số nhà sản xuất còn ghi áp suất khi xe chở 2 người hoặc khi chở 4 người. Một điểm cuối cùng để bạn kiểm tra là nếu áp suất tiêu chuẩn của nhà sản xuất xe cao hơn áp suất ghi trên lốp thì bạn đã chọn sai lốp cho xe!
Lợi ích của việc đảo lốp

Đảo lốp giúp ngăn ngừa mài mòn bằng việc làm cho lốp nằm ở các vị trí bánh khác nhau càng nhiều càng tốt, giúp lốp mòn đều hơn và bền hơn. Nên nhớ rằng việc đảo lốp không thể giúp sửa lại những hư hỏng trong kết cấu lốp.
Khi các lốp xe cùng mòn giống nhau, bạn sẽ thay cùng lúc 4 lốp và duy trì được tay lái chuẩn mà không cần chỉnh lại. Nhà sản xuất thường khuyên bạn nên đảo lốp mỗi 5.000 – 8.000 km, ngay cả khi lốp chưa bị mòn. Đây cũng là dịp để chúng được kiểm tra hư hỏng và loại bỏ các đá nhỏ chèn vào gai lốp. Bạn nên kết hợp đảo lốp với thay dầu máy luôn một lần là tốt nhất.
Nên đảo lốp như thế nào? Bạn nên đảo lốp theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Dưới đây là các sơ đồ đảo lốp
Đảo 4 lốp với nhau – sử dụng trong trường hợp bánh xe dự phòng (bánh sơ-cua) là loại nhỏ, khác với 4 bánh đang sử dụng:


Sơ đồ A và B:
dành cho xe dẫn động bằng 2 bánh trước (lốp không có chiều quay)
Sơ đồ C:
dành cho xe dẫn động bằng 2 bánh sau (lốp không có chiều quay)
Sơ đồ D:
dành cho xe dẫn động bằng 2 bánh trước hoặc 2 bánh sau (lốp có chiều quay)
Sơ đồ E:
dành cho xe có lốp trước khác với lốp sau (lốp không có chiều quay)

Đảo 5 lốp
– sử dụng đối với xe có bánh xe dự phòng giống với các bánh còn lại:
Sơ đồ F:
xe dẫn động 2 bánh trước (lốp không có chiều quay)
Sơ đồ G:
xe dẫn động 2 bánh sau, dẫn động 4 bánh, dẫn động tất cả các bánh (lốp không có chiều quay)


Việc áp dụng đảo lốp là rất quan trọng đối với các xe dẫn động 4 bánh. Nếu bạn có một lốp mới và 3 lốp bị mòn thì có thể gây một chút sai lệch đối với hệ thống dẫn động


Công nghệ lốp xe có khả năng sử dụng khi bị xẹp (Flat tire technology)


Bạn có bao giờ trễ giờ làm hay một cuộc hẹn với bạn bè khi lốp bị xẹp? Khi đó, bạn sẽ hiểu được sự phiền phức do lốp xẹp đến mức nào. Nhiều xe hiện nay có hệ thống kiểm tra áp suất lốp. Hệ thống sẽ cảnh báo khi áp suất lốp thấp hơn tiêu chuẩn. Các hệ thống cảnh báo áp suất lốp sẽ rất tiện lợi cho tài xế trong việc linh hoạt trong việc quyết định khi nào cần thay lốp hoặc sửa lốp ở đâu. Dưới đây là 3 ví dụ về kỹ thuật mới này:

(1)Lốp xe có khả năng sử dụng khi bị xẹp (Run Flat Tires)




Loại lốp này có thành lốp cứng cáp hơn hơn, do đó có thể chịu được trọng lượng xe, ngay cả khi bị mất hết áp suất. Khi đó, áp suất không khí không còn nâng xe mà chính kết cấu lốp sẽ tạm thời nâng đỡ xe. Loại lốp này giúp xe có thể chạy với tốc độ 80m/h khi bị xẹp lốp. Một vài tài xế không nhận biết được khi bánh xe bị xẹp vì vậy loại lốp này thường đi kèm với một cảm biến áp suất lốp để báo cho tài xế khi lốp mất áp suất.


(2)
Lốp tự vá (Continental - ContiSeal)




Lốp tự vá có kết cấu bình thường nhưng được phủ them một lớp keo mềm. Khi lốp bị thủng bởi đinh ốc, vít, chất keo sẽ phủ lại và làm kín. Loại lốp này không cần phải lắp thêm cảm biến áp suất.


(3)
Lốp có khả năng sử dụng khi bị xẹp Michelin PAX




Loại lốp này có thêm một vòng đỡ được lắp vào bánh xe. Vì vậy khi lốp bị mất áp suất, lốp sẽ tựa trên vòng đỡ này và chịu được trọng lượng xe. Ưu điểm là thành lốp có thể làm bằng vật liệu thông thường và đảm bảo tính năng êm dịu khi lái xe. Nhược điểm là phải lắp thêm vòng đỡ và không phải loại bánh xe nào cũng lắp được và giá cả cũng cao hơn.


Làm sao để biết đường kính lốp, bề rộng mâm và độ lệch tâm của mâm bánh xe?



Đường kính lốp

Ví dụ lốp có ký hiệu 185/65 R 13 91 H. Chiều cao lốp được tính là 185x65%=120,25mm. Chúng ta cũng biết rằng mâm bánh xe có đường kính 13 inch (330,20mm). Bây giờ chúng ta tính được:
Đường kính tổng cộng bánh xe = đường kính mâm + 2 lần chiều cao lốp (xem hình)
Như vậy, đường kính tổng cộng bánh xe = 330,20 + 2 x 120,25 = 570,70 mm


Độ lệch tâm (ký hiệu ET)





Độ lệch tâm là khoảng cách giữa đường tâm mâm bánh xe và mặt phẳng lắp mâm (xem hình). Độ lệch tâm được đo bằng mm. Chúng ta có độ lệch tâm dương, độ lệch tâm âm và độ lệch tâm bằng không. Độ lệch tâm tùy thuộc vào kết cấu hệ thống treo, khoảng cách giữa bánh xe và hệ thống treo, kết cấu hệ thống lái và còn ảnh hưởng đến hình dạng của mâm bánh xe.
Mâm bánh xe thường có ghi độ lệch tâm ký hiệu là “ET”. Ví dụ như ET 45 thì độ lệch tâm được hiểu là 45mm
Nên nhớ là khi bạn thay đổi đường kính bánh xe thì độ lệch tâm cũng thay đổi. Điều này có ảnh hưởng đến việc điều khiển xe.



Bề rộng mâm bánh xe


Bề rộng mâm bánh xe được đo bằng khoảng cách giữa 2 má trong của mâm chứ không phải đo từ 2 má ngoài của mâm. Mỗi mâm bánh xe thường được ghi đường kính, bề rộng, độ lệch tâm. Tuy nhiên bạn cũng nên cẩn thận đối với một số mâm kém chất lượng có thể không ghi các thông số này!


Cách “độ” mâm bánh xe đúng

Tăng kích thước
Lốp chuẩn
Chỉ tăng bề rộng lốp
Tăng 1 inch
Tăng 2 inch
Ví dụ 1
Lốp xe
205/60 R16
225/55 R16
225/50 R17
245/40 R18
Chiều cao tổng thể của bánh xe (mm)
652,3
653,8
656,6
653,0
Ví dụ 2
Lốp xe
205/60 R16
215/55 R16
215/50 R17
235/40 R18
Chiều cao tổng thể của bánh xe (mm)
652,3
642,9
646,7
645,2


Chỉ tăng bề rộng lốp:


Tăng bề rộng lốp thích hợp với những người có ngân sách nhỏ vì chỉ cần thay lốp mà thôi. Thông thường người ta thích thay lốp rộng hơn. Điều này làm tăng thêm một chút khả năng bám đường. Trong ví dụ 1 (xem bảng), lốp mới rộng hơn (từ 205mm tăng lên 225mm) được lắp vào, lúc này chiều cao tổng thể của bánh xe không khác biệt nhiều với lốp chuẩn.
Trong ví dụ 2, lốp mới được lắp vào có bề rộng nhỏ hơn ví dụ 1, nhưng bây giờ chiều cao tổng thể của bánh xe khác biệt khá nhiều với lốp chuẩn. Việc sử dụng lốp có chiều cao nhỏ hơn sẽ giúp tăng độ cứng cho hông lốp nhưng lại không tiện nghi khi lái xe.
Ví dụ 1 là trường hợp tốt nhất để xem xét bởi vì nó duy trì đường kính tổng thể của bánh xe gần giống với lốp chuẩn.
Việc độ lốp tùy thuộc vào tính năng mà bạn mong muốn đạt được. Bạn nên thật cẩn thận để duy trì chiều cao tổng thể của bánh xe trong giới hạn của nhà sản xuất cũng như trong giới hạn của luật pháp. Nên nhớ rằng việc thay đổi chiều cao tổng thể của bánh xe có thể ảnh hưởng đến một số hệ thống như: hệ thống phanh ABS, hệ thống ổn định xe điện tử ESP… và làm cho xe bạn kém an toàn hơn.

Tăng 1 inch:

Tăng 1 inch có nghĩa là bạn tăng thêm 1 inch cho mâm bánh xe. Bạn cần phải chú ý tới khác biệt ở chiều cao tổng thể của bánh xe ở ví dụ 1 và ví dụ 2

Tăng 2 inch

“Tăng 2 inch” có nghĩa là bạn muốn tăng đường kính mâm bánh xe thêm 2 inch. Một lần nữa bạn phải chú ý tới khác biệt ở chiều cao tổng thể của bánh xe ở ví dụ 1 và ví dụ 2

Tăng 3 inch hay nhiều hơn:

Lúc này vấn đề trở nên phức tạp hơn. Bạn hãy hỏi ý kiến các chuyên gia về mâm và lốp xe bởi vì tải trọng của lốp trở nên quan trọng. Ngoài ra, các vấn đề khác cũng cần được xem xét khi tăng mâm bánh xe từ 3 inch trở lên.


Mỗi quốc gia có quy định riêng về việc thay đổi kích thước bánh xe và mỗi nhà sản xuất cũng có giới hạn về điều này. Khi độ bánh xe, hãy đảm bảo tất cả các tiêu chuẩn kỹ thuật đều được xem xét, bao gồm: chiều cao tổng thể bánh xe, độ lệch tâm, tải trọng của lốp. Việc kiểm tra có thể mất hàng giờ và nên được thực hiện bở những kỹ sư, kỹ thuật viên ô tô chuyên nghiệp.

MẸO VẶT

·Kiểm tra áp suất lốp mỗi 2 – 4 tuần và luôn luôn kiểm tra trước những chuyến đi xa/ tải nặng
·Điều chỉnh áp suất theo đúng quy định nhà sản xuất được ghi trong thẻ vàng dán trên xe
·Đừng quên kiểm tra áp suất bánh xe dự phòng
·Khi thấy điều gì bất thường, lập tức mang xe cho những người có chuyên môn kiểm tra
·Đảo lốp mỗi 5.000 – 8.000 km
·Khi đọc áp suất lốp, nên nhớ rằng đó là áp suất đo khi bánh xe nguội
·Lắp đúng lốp theo hướng dẫn của nhà sản xuất
·Đảm bảo rằng lốp xe theo đúng quy định pháp luật

NQ (Nguồn Autovina)

Phát triễn thương hiệu: Cần sự đầu tư bài bản

Xuất khẩu trực tiếp từ lâu vẫn là niềm ao ước của người Việt Nam. Tuy nhien điều đó không dễ vì hầu như doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về thị trường thế giới và không chủ động trong tiếp cận đối tác, thậm chí rất thiếu kỹ năng trong tham gia thị trường quốc tế.
Thực tế cho thấy, đại bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, thiếu sự gắn kết tập trung giữa các cơ sở sản xuất nên khó đáp ứng được những đơn hàng lớn.
Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp chưa có điều kiện và cũng chưa chú trọng đầu tư cho xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm và thương hiệu doanh nghiệp, nhất là việc tạo mẫu và thiết kế.

Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ. Hệ quả là rất nhiều hàng thủ công Việt Nam không có những công dụng rõ rệt và chưa hướng vào mục tiêu chiếm lĩnh một thị trường cụ thể nào.
Ví dụ, thị trường châu Phi và Tây Nam Á thường ưa chuộng những sản phẩm màu sắc đậm, hàng khổ to, thô ráp, không cần tinh xảo, phù hợp với thiên nhiên và không gian rộng. Thị trường Ả Rập thường không thích những sản phẩm có hình sư tử, hổ, báo, hươu nai vì không phù hợp với đặc trưng văn hóa nắng nóng sa mạc cát của vùng này. Nếu chúng ta cứ sao chép dập khuôn kiểu dáng giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc của Trung Quốc thì sẽ gặp những vấn đề rắc rối về mặt pháp lý và sở hữu trí tuệ.

- Doanh nghiệp thu lại giá trị cho mình thông qua lợi nhuận, uy tín, giá trị thương hiệu, cơ hội phát triển... giá trị gia tăng nhỏ nhoi cho các doanh nghiệp, vì thiếu tính chủ động trong huy động các nguồn lực sản xuất.  


Đó là chưa kể, thị hiếu con người luôn biến đổi theo thời gian, nếu các doanh nghiệp không chịu nghiên cứu mà cứ sử dụng các mẫu mã cũ sẽ rất dễ gây nhàm chán. Vì vậy, việc đưa ra được những sản phẩm độc đáo sẽ có tính quyết định quan trọng trong nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. 


Chủ động tìm thị trường

 Việc xuất khẩu qua trung gian đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sản xuất phải chấp nhận giá bán thấp, gây ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp và thu nhập người lao động, khó nắm bắt được nhu cầu khách hàng. Không chỉ mất chi phí trung gian mà các doanh nghiệp còn mất đi cơ hội được giới thiệu về sản phẩm của mình bởi vì sản phẩm xuất ra nước ngoài phải mang nhãn mác của các nhà phân phối lớn trên thế giới.   Theo một khảo sát của Trường Đại học Thương mại năm 2008, có tới 80% số hợp đồng xuất khẩu nông sản, thủ công mỹ nghệ được ký kết với nước ngoài là do đối tác tự tìm đến. Điều đó cho thấy, nếu các doanh nghiệp năng động hơn nữa trong việc tìm kiếm đối tác thì tiềm năng rất dồi dào.
Theo các chuyên gia, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần chủ động tìm kiếm qua các kênh làm việc trực tiếp hoặc qua các đoàn khảo sát, qua Thương vụ Việt Nam tại các nước hoặc qua các hội chợ, triển lãm, qua người thân, bạn bè đi du lịch, công tác ở nước ngoài... Đặc biệt là phải tìm được các kênh phân phối riêng bằng những mặt hàng đặc biệt với những mẫu mã độc đáo khác lạ, tạo sự khác biệt cho sản phẩm để nâng sức cạnh tranh trên thị trường.

NQ

Hướng tới chiến lược cạnh tranh động

Bài viết này bàn đến việc lựa chọn chiến lược kinh doanh như thế nào cho hiệu quả dưới góc độ kinh tế học Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không thể chỉ hiểu đơn giản qua việc cạnh tranh sống còn mà còn được hiểu như sự tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng hơn nữa nhu cầu con người. Cạnh tranh là chìa khóa hướng tới sự phát triển xã hội hiện đại và là giải pháp để hướng tới mục tiêu mọi người cùng hưởng lợi.
 
 
Minh họa: Khều.
Kể từ khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2006, và sau khi trải qua giai đoạn khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ có những sức bật mạnh và bùng nổ nhu cầu trong thập kỷ tới. Việc tham gia của nhiều tổ chức, thành phần kinh tế chuyên nghiệp trong nước và nước ngoài làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường Việt Nam. Bài viết này bàn đến việc lựa chọn chiến lược kinh doanh như thế nào cho hiệu quả dưới góc độ kinh tế học.

Sự đa dạng của sản phẩm và nhu cầu thị trường

Từ bài học cơ bản về kinh tế của Adam Smith với lý thuyết “bàn tay vô hình”, trong đó mô tả cơ chế cạnh tranh về giá cho một loại sản phẩm duy nhất trong một thị trường đồng nhất, việc sản phẩm được bán với giá bằng chi phí sẽ cho doanh nghiệp lợi nhuận bằng 0.

Thực tế chứng minh rất nhiều trường hợp, trong đó cơ chế “bàn tay vô hình” không được áp dụng. Vì vậy, việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường, sự thay đổi, mục tiêu phát triển của mỗi doanh nghiệp.

Thị trường trong lý thuyết của Adam Smith được miêu tả là đồng nhất (homogenous) với cùng một mức độ nhu cầu của mọi người. Trong thực tế, nhu cầu của con người rất khác nhau, được quyết định bởi nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, văn hóa, thu nhập… tạo nên một nhu cầu đa dạng trong thực tiễn.

Vì vậy, một sản phẩm không thể đáp ứng được tất cả những đòi hỏi đó. Do đó, doanh nghiệp cần lựa chọn cho mình một chiến lược đúng đắn để đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm thiểu sự cạnh tranh đơn giản về giá thông qua chiến lược cạnh tranh dựa trên sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ (differentiation).

Trong kinh tế học, doanh nghiệp có thể lựa chọn hai loại khác biệt là khác biệt dọc (vertical) và ngang (horizontal). Khi sản phẩm có sự khác biệt về chất lượng, những đặc tính chất lượng mà chúng ta có thể cân, đong, đo, đếm và so sánh được thì gọi là sự khác biệt dọc. Chẳng hạn, ôtô do Trung Quốc sản xuất thì thường không thể so sánh được với ôtô do Mỹ, Nhật sản xuất; hoặc dịch vụ trong một khách sạn 5 sao sẽ tốt hơn nhiều so với dịch vụ tại một nhà trọ dành cho sinh viên.

Ngoài ra, khi sản phẩm có những đặc tính khác biệt, nhưng sự cảm nhận về sự khác biệt đó là do nhu cầu, sự cảm nhận của từng nhóm khách hàng, hay đơn giản là do vị trí địa lý của sản phẩm đó. Chẳng hạn, chúng ta không thể nói chất lượng dịch vụ của hãng viễn thông này tốt hơn hãng viễn thông kia hoặc ngược lại. Tuy nhiên, có nhiều người ưa thích sử dụng dịch vụ của hãng này trong khi đó số khác lại chọn hãng kia.

Hoặc trên một con đường có hai cửa hàng bán cùng một loại kem. Nếu hai cửa hàng đó kinh doanh tại cùng một địa điểm, thì chúng ta quay trở lại trường hợp của Adam Smith, hai cửa hàng này sẽ đạt được lợi nhuận bằng 0 bởi khách hàng có thể lựa chọn bất kỳ hàng kem nào và do đó việc tăng giá sẽ không bán được hàng (chúng ta không xem xét trường hợp có sự cấu kết hay thông đồng giữa hai cửa hàng kem).

Thử tưởng tượng trong trường hợp hai cửa hàng kem đặt tại hai đầu của con đường đó. Lúc này cửa hàng kem có thể bán giá cao hơn trường hợp trước, bởi khách hàng không dễ dàng thay đổi nơi mua hàng vì như thế khách hàng sẽ phải mất chi phí di chuyển trên con đường đó.

Từ hai loại khác biệt về sản phẩm, dịch vụ ở trên, có thể thấy rằng việc cạnh tranh không nhất thiết phải giảm giá thành và trong rất nhiều trường hợp khách hàng mong muốn có sự khác biệt về sản phẩm hơn là sự khác biệt về giá. Do vậy, để thành công, doanh nghiệp cần phải hiểu được sự phân khúc thị trường (market segmentation) và việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ phải hướng tới những nhóm khách hàng nhất định.

Từ cạnh tranh tĩnh, hướng tới cạnh tranh động

Như đã đề cập ở trên, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể được hiểu như là sự cạnh tranh tĩnh: cạnh tranh dựa trên sự khác biệt mà không xét đến chu kỳ sống của sản phẩm, dịch vụ. Hướng tới cạnh tranh động, doanh nghiệp cần có sự đầu tư thích hợp vào việc nghiên cứu và phát triển để tạo ra sản phẩm mới.

Trường hợp sản phẩm mới thay thế hoàn toàn sản phẩm cũ thì gọi là cạnh tranh hủy diệt (destructive competition) và doanh nghiệp thành công trở thành doanh nghiệp độc quyền và đạt được lợi nhuận cực đại (winner-take-all) cho đến khi một sản phẩm khác được tạo ra. Trong thực tế có rất nhiều phát minh, sáng chế đã thay thế các sản phẩm cũ như sự ra đời của máy tính cá nhân đã làm biến mất nhu cầu sử dụng máy đánh chữ; xe gắn máy ngày nay đã thay thế hoàn toàn những chiếc Mobilette của những thập kỷ trước.

Trong trường hợp cạnh tranh ít khắc nghiệt hơn và sản phẩm mới không thể thay thế hoàn toàn sản phẩm cũ, ít nhất trong một thời gian ngắn, hoặc có sự xuất hiện sản phẩm khác tương tự, có thể cạnh tranh với sản phẩm đó, doanh nghiệp tiên phong vẫn có thể được lợi từ bước đi chiến lược của mình (first mover advantages) như quá trình xây dựng thương hiệu, danh tiếng, tích lũy nguồn vốn, kiến thức thị trường nhiều hơn so với những đối thủ cạnh tranh khác ra đời sau.

Tất nhiên, việc đi tiên phong cũng có những rủi ro nhất định, và người đi sau có thể tránh được những rủi ro đó từ việc học hỏi kinh nghiệm của người đi trước. Do đó, một doanh nghiệp muốn thành công cần có chiến lược mạo hiểm nhưng khôn ngoan.

Ngoài ra, khi một doanh nghiệp đầu tư nhằm mục đích cung cấp một sản phẩm, dịch vụ trên một thị trường mới, chúng ta có thể nói doanh nghiệp đó cạnh tranh cho thị trường (compete for the market). Còn cạnh tranh trong thị trường (compete in the market) là cuộc đua của những doanh nghiệp tại thị trường cũ.

Chẳng hạn, thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông 3G được kỳ vọng là cuộc đua cho thị trường mới, trong đó người sử dụng được hưởng dịch vụ viễn thông di động hiện đại với nhiều chức năng, ứng dụng mới như truy cập Internet, xem ti vi…

Ngược lại, hiện nay, sự cạnh tranh giữa các hãng viễn thông tại Việt Nam được hiểu là sự cạnh tranh trong thị trường. Các doanh nghiệp cố gắng cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ 2G hiện tại như dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn, giá cước hấp dẫn hơn…

Tóm lại, chiến lược cạnh tranh đa dạng và khôn ngoan sẽ đem lại lợi nhuận doanh nghiệp và cũng làm tăng sự thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Đó chính là cách tốt nhất để mọi người cùng được hưởng lợi.
NQ

Trang trí ngôi nhà mùa xuân

Mùa xuân chính là mùa để vạn vật khởi đầu một cuộc sống mới, ngôi nhà thân yêu của chúng ta cũng không phải là ngoại lệ. Bạn hoàn toàn có thể mang đến cho ngôi nhà một sức sống mới bằng việc trang trí theo những gợi ý dưới đây. 
 
1.Bổ sung màu trắng
Màu trắng chính là sự lựa chọn hoàn hảo nhất để mang lại cho ngôi nhà một không gian sáng sủa tươi mát. Nếu như căn hộ của bạn được thiết kế thiên về các tông màu ấm như màu vàng, nâu hay màu đỏ…thì thay vì chọn màu trắng sáng bạn nên chọn màu trắng ngà, màu kem nhạt để sự lựa chọn không bị lạc tông.
2.Chú ý đến bức tường tiêu điểm
Chỉ một sự thay đổi nhỏ ở bức tường trọng tâm sẽ mang đến một bộ mặt hoàn toàn khác cho cả căn phòng. Sự lựa chọn phù hợp cho mùa xuân sẽ là những màu sắc tươi sáng, ấm áp như màu hồng tươi hoặc xanh da trời.
3.Sử dụng hoạ tiết hoa
Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc chính vì lẽ đó mà những hoạ tiết hoa trang trí được sử dụng cho vải bọc ghế, vỏ gối, rèm cửa…cũng chính là cách mà bạn mang hơi thở của mùa xuân vào không gian sống của mình. Cách làm này không tốn nhiều thời gian và tiền bạc nhưng bạn hãy nhớ chú ý để lựa chọn những hoa văn sao cho phù hợp với bối cảnh chung của cả căn phòng.
4.Lựa chọn một số đồ đạc bằng thuỷ tinh
Những món đồ bằng thuỷ tinh không chỉ mang một nét đẹp khá mềm mại và quyến rũ mà nó còn mang đến thêm cho căn phòng một chút ánh sáng. Lọ hoa, đĩa đựng kẹo, hộp cắm bút…là những lựa chọn bạn nên cân nhắc.
5.Cất những tấm rèm cửa
Những tia nắng của mùa xuân chỉ mang đến cảm giác ấm áp chứ không hề gay gắt vì thế nên bạn hãy tạm thời cất những tấm rèm cửa vào tủ thay vào đó là một vòng hoa lụa chẳng hạn. Đó là một cách hiệu quả để làm mới không gian và cũng là cách để bạn mang thêm thật nhiều không khí của mùa xuân vào nhà.
6.Giữ sạch cửa sổ
Một cửa sổ bám đầy bụi bẩn có thể làm giảm đáng kể lượng ánh sáng đi vào nhà nên bạn cần lau chùi cửa sổ thật sạch. Cửa sổ sạch sẽ sẽ làm căn phòng trở nên sáng hơn, rộng hơn và thoáng mát hơn.
7.Sử dụng những chậu hoa tươi
Khác với việc sử dụng các hoạ tiết hoa trong trang trí, bạn có thể mang bất kỳ cây hoa nào mà bạn yêu thích ngoài vườn nhà vào trong phòng, cách làm này đơn giản mà lại đem lại hiệu quả rất tốt. Và sẽ càng đặc biệt hơn khi những bông hoa tươi thắm đó được chính bạn chăn bón mà có được.
8. Làm sạch tất cả những món đồ trang trí trên tường
Công việc này không chỉ đảm bảo yếu tố vệ sinh đơn thuần mà những đồ đạc sạch bóng xung quanh bạn sẽ làm cho không gian sảng sủa và tươi mới hơn. 



NQ

6 Yếu tố cần tránh khi hợp tác kinh doanh

Hợp tác giữa các công ty đã trở thành một phần quan trọng trong kinh doanh. Lý do thật đơn giản: đó là bổ sung kỹ năng cho nhau, chia sẻ công cụ, chi phí và ý tưởng để có thể hiện thực hóa một sáng kiến hay và các bên hợp tác sẽ cùng thu được lợi nhuận.
Nhưng cũng tương tự như một sự “hôn phối” giữa hai cá thể, bên trong mối quan hệ hợp tác thường có không ít rắc rối và thử thách liên quan đến vô số vấn đề như chi phí, thuê mướn nhân viên, chia sẻ lợi nhuận. Vì thế, nếu đang nghĩ đến chuyện hợp tác cùng doanh nghiệp nào đó, bạn hãy cân nhắc đến những điều sau đây:

1. Không cân nhắc kỹ khi góp vốn

Bất cứ lúc nào nói đến việc phải sẻ chia một phần vốn của mình, như tiền bạc, nguyên liệu, thông tin và bất động sản, thì có nghĩa là bạn sẽ mất đi một phần khả năng nắm bắt sự nghiệp của mình. Trong một thế giới hoàn hảo, người hợp tác cùng luôn có ý chí tốt, chính trực và không hề có ý tưởng chiếm đoạt phần tài sản ấy hay sử dụng chúng để kiếm tiền cho riêng mình, nhưng cuộc sống hiện nay không hoàn mỹ như thế. Do đó, hãy luôn cẩn trọng, tính toán mọi chi phí hoạt động và lợi nhuận mà bạn chia sẻ theo một bản thỏa thuận hợp tác. Cũng đừng quên tạo ra một lối thoát dễ dàng cho mình nếu mọi chuyện trở nên không như ý muốn.

2. Hợp tác chỉ vì không đủ tiền thuê nhân công

Đây chính là liều thuốc giết chết sự hợp tác ngay khi mới bắt đầu. Hoàn cảnh thường rất quen thuộc: A có ý tưởng kinh doanh và B lại sở hữu kỹ năng kinh doanh, nhưng A không đủ khả năng thuê mướn B nên họ quyết định cùng chia sẻ công việc, chi phí và lợi nhuận. Điều gì sẽ xảy ra nếu A và B cùng kết thúc mọi thứ trong tình trạng cả hai đối đầu với nhau và A chợt nhận ra rằng anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào những điều lệ bắt buộc ghi trong hợp đồng hợp tác với B? Nếu bạn có được một ý tưởng và biết một ai đó có được một kỹ năng thì hãy thuê anh ta hoặc thực hiện một bản hợp đồng chấp thuận sự độc lập của mình.

3. Thiếu hợp đồng hợp tác

Trong sự hợp tác, mọi chi tiết và trách nhiệm đều phải được kê khai rõ ràng và viết ra giấy, và hợp thức hóa bằng hợp đồng có cả sự tham gia của luật sư hai bên. Bạn sẽ rất cần đến luật sư khi tình thế xấu đi.

4. Xem thường việc hợp tác hữu hạn

Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của hợp đồng hợp tác chính là việc hiểu nhầm về các điều lệ pháp lý mà các bên đặt ra cho nhau. Một điều đáng chú ý chính là chủ quan trong sự hợp tác hữu hạn, nghĩa là một bên không phải chịu trách nhiệm về những hành động hay bổn phận nào của bên kia. Hãy để luật sư xem xét kỹ vấn đề này trong bản thỏa thuận.

5. Thiếu hẳn một lối thoát

Trong bất kỳ thỏa thuận hợp tác nào, hãy xác định rõ các điều khoản cho phép bạn và đối tác có thể chấm dứt việc hợp tác hoặc những lựa chọn liên quan đến việc mua lại toàn bộ tài sản của đối tác. Đây thật sự là một công việc dễ dàng và minh bạch, cũng như không hề dính dáng đến sự thành công của việc kinh doanh chung.

6. Tiến hành hợp tác 50/50

Trong việc hợp tác cần có một người đứng ra làm chủ. Nếu quyết định hợp tác, hãy góp vốn theo tỷ lệ 60/40 hoặc 70/30. Được như thế, bạn và bên đối tác rõ ràng sẽ có được một nhân vật chủ chốt cho chức danh quản trị và nắm bắt toàn bộ mọi hoạt động của công ty. 


NQ 

Chậm lại để nhanh hơn

Nhiều người thường than phiền rằng việc nhiều quá, bận bù đầu bù cổ, không có thời gian để nghỉ ngơi... Và họ, trước mắt mọi người, lúc nào cũng tất bật, vội vã. Lý do thật đơn giản: họ chưa biết quản lý thời gian! Để quản lý thời gian hiệu quả, nhiều người đã tham gia các lớp học về quản lý thời gian nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề. Vậy “bí quyết” nằm ở đâu? Anh Quách Tuấn Khanh - Giám đốc công ty tiếp thị truyền thông Starlit, kiêm Giám đốc Trung tâm huấn luyện Thành Công
 

- “Bí quyết” sử dụng thời gian hiệu quả là bạn phải tập thật tập trung trong lúc sử dụng thời gian, cho dù bạn đang chơi, đang học, làm việc, nghe nhạc, xem phim… Bạn cứ thưởng thức cuộc sống chứ đừng để cho thời gian trôi qua lãng phí. Hãy nhớ rằng, bạn không thể làm mọi việc cùng một lúc mà chỉ có thể làm từng việc một. Nhiều người cứ lên kế hoạch trong buổi sáng có 10 việc phải làm cho xong và bằng mọi cách phải làm xong những việc đó. Anh ấy có thể hoàn thành tất cả những việc đó nhưng tôi cam đoan với bạn rằng không phải việc nào anh ta cũng làm một cách hoàn hảo. 

* Những kỹ năng cơ bản để “quản lý” thời gian? 

- Hãy đặt thứ tự ưu tiên trong công việc: xác định tầm quan trọng của công việc; mức độ khẩn cấp và phân bố thời gian; dự trù công việc đó mất thời gian bao lâu để thực hiện đúng tiến độ. Nhiều người than phiền là cứ tưởng công việc đó dễ, chỉ cần làm trong một giờ là xong nhưng khi bắt tay vào làm, mất cả ngày vẫn không xong. Kéo theo đó là bao nhiêu việc khác trong ngày bị đình trệ.
Khi làm việc theo một khung thời gian đã định sẵn, người nước ngoài có câu: “How to say no?” (Làm thế nào để nói không). Có nghĩa là, làm sao biết từ chối những công việc không quan trọng và không khẩn cấp để giải quyết công việc mà bạn đang làm cho xong. Đôi khi bạn cũng gặp tình thế “éo le” như: những người có ảnh hưởng đến mình như sếp hay bạn bè nhờ làm một việc khác mà bạn không thể từ chối. Bạn hãy giải thích cho sếp hiểu, tôi sẽ làm công việc sếp giao vào lúc khác. Nhưng trường hợp này hầu như rất ít, hầu hết là do chính bạn không tránh được những “cám dỗ” xung quanh như: đang làm việc, bạn đến rủ đi uống ly cà phê. Bạn cứ nghĩ chỉ mất 10 phút có sao đâu. Ngồi nghe nhạc hay quá. Cứ thế 2 giờ trôi qua…

* Từ chối chỉ là giải pháp tạm? 

- Chính vì là giải pháp tạm nên bạn hãy bắt tay vào việc lập kế hoạch làm việc trong ngày. Rất hiếm người làm điều này vì cho rằng bản thân họ còn chưa đủ thời gian để làm việc lấy đâu ra thời gian lập kế hoạch. Lời khuyên của tôi là: bạn hãy tập thói quen lập kế hoạch trong ngày để mỗi ngày xem lại và lập lại kế hoạch cho ngày mai. Câu nói “Không lập kế hoạch nghĩa là lập kế hoạch để thất bại” luôn luôn đúng. Bạn không có kế hoạch trong ngày thì làm sao có kế hoạch trong một tháng, một năm và kế hoạch cả cuộc đời. Thời gian đầu bạn sẽ cảm thấy khó khăn khi thực hiện cam kết đó. Tập dần, bạn sẽ thấy quen thôi. 

* Vì sao nhiều người đã học qua nhiều lớp quản lý thời gian nhưng vẫn không thực hiện được? 

- Là do họ không rèn luyện, không cam kết, không giữ kỷ luật với chính bản thân mình. 

* Anh có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm? 

- Tập trung sẽ làm việc tốt. Hứng thú trong công việc sẽ giải quyết công việc tốt. Thói quen của cuộc sống hiện đại lúc nào cũng hối hả đã làm cho con người mỏi mệt hơn. Hãy rèn luyện để cuộc sống chậm lại. Chậm ở đây không phải là làm mọi thứ chậm mà là phá bỏ thói quen gấp gáp để tập trung vào đúng việc của mình. Sống chậm lại để nhanh hơn, đạt được kết quả tốt hơn. Mỗi ngày bạn nên dành 5, 10 phút tập trung lắng nghe hơi thở, hoặc suy nghĩ về bản thân mình.

10 viên gạch xây nên bức tường chiến lược

Thông thường, những người chịu trách nhiệm soạn thảo chiến lược cho công ty luôn cho rằng công tác hoạch định chiến lược là một quá trình phức tạp. Thật ra, đó là do họ đã không nắm bắt được sự đơn giản và rõ ràng của các khái niệm về chiến lược, cũng như không biết chính xác đâu là những nhân tố chính để đạt được thành công.

1. Đừng cố giành vị trí thứ nhất mà hãy tỏ ra độc đáo

Sai lầm chính và cũng là sai lầm tệ hại nhất thường gặp trong việc hoạch định chiến lược là đương đầu trực diện với đối thủ cạnh tranh.  Mục tiêu của bạn không phải là trở thành công ty đứng đầu, mà hãy cố gắng để giành vị trí thứ 2. Hãy tìm ra những giá trị độc đáo, hiếm có và tìm những cách tiếp thị gây ấn tượng.

2. Mục tiêu hàng đầu của bạn phải là hoàn vốn nhanh

Mục tiêu chính yếu của công ty là tỷ suất lợi nhuận của tổng số vốn đầu tư (ROIC); sức tăng trưởng của công ty chỉ là mục tiêu thứ hai, và chỉ cần tập trung toàn lực đạt được mục tiêu này sau khi đã đạt được mục tiêu chính yếu.

Tập trung vào các mục tiêu như tăng thị phần, tăng mức lợi nhuận, nâng lượng hàng bán ra… sẽ tạo ra những mạo hiểm nghiêm trọng từ bên trong đối với chiến lược của công ty.

3. Nền công nghiệp- cơ sở của phân tích chiến lược

Hiệu quả kinh tế của một công ty bao gồm 2 thành phần: cơ cấu nền công nghiệp (đặt ra những quy định chung cho cuộc cạnh tranh) và vị trí của công ty trong lĩnh vực của mình (nguồn gốc của những ưu thế cạnh tranh).
Chiến lược thâu tóm cả 2 thành tố đó. So sánh các chỉ số ROIC của các công ty thuộc những lĩnh vực khác nhau là việc làm vô nghĩa.
ROIC của công ty dược phẩm Pharmacia & Upjohn trong thời kỳ 1985- 2002 trung bình đạt 19,55%; trong khi ở hãng hàng không Southwest Airlines chỉ số này là 12,75% trong cùng thời kỳ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào toàn cảnh nền công nghiệp, ta thấy chỉ số ROIC trung bình trong công nghiệp dược là 28,14%; còn công nghiệp hàng không lại thường có chỉ số ROIC thấp- 5,05%. Vì vậy, chỉ có thể đánh giá mức độ thành công của một công ty dựa trên vị trí của công ty đó trên thị trường và các chỉ số trong lĩnh vực công ty đó hoạt động.

4. Đừng sợ, nếu buộc phải thỏa hiệp

Một phần đáng kể của việc hoạch định chiến lược là việc phải lựa chọn khi 2 quan điểm chiến lược có nhiều điểm bất đồng, có nghĩa là cần xác định những gì công ty không nên làm.
Công ty Neutrogena Soap đã thành công vang dội vào năm 1990 khi chọn cách “đoạn tuyệt” với xà phòng rửa tay thông thường và chuyển sang sản xuất xà phòng mềm dành cho da nhạy cảm. Thương hiệu này, với phần quảng cáo khiêm tốn rằng đây là loại xà phòng được các bác sỹ da liễu khuyên dùng, lập tức giành được cảm tình của đa số người tiêu dùng, mặc dù đây là loại sản phẩm chỉ dành cho đối tượng khách hàng hẹp. Tuy nhiên sau đó, khi kế hoạch chiến lược của công ty chuyển hướng sang việc phát triển hình ảnh công ty và thực hiện quảng cáo rộng khắp trên truyền hình với sự tham gia của các ngôi sao thời thượng, khách hàng, vốn rất tin lời nói của bác sỹ, lập tức nghi ngờ tính trung thực của mặt hàng này. Kết quả không thể là gì khác hơn việc mặt hàng này mất dần thị phần.

5. Chiến lược cần phải thành công ở từng mắt xích

Ưu thế cạnh tranh của công ty không thể chỉ tập trung vào một hay một vài mắt xích mà phải đạt được sự hoàn hảo trong cả tổ hợp các hoạt động của công ty.
Sự kiện công ty Zara giành được thị trường trong thời gian ngắn kỷ lục đã trở thành tấm gương sáng cho việc xây dựng chiến lược thành công đến từng phân tử. Cách làm của Zara là thay đổi liên tục những bộ sưu tập thời trang trong suốt cả năm (đến 15 lần), trong khi các nhà sản xuất quần áo khác chỉ có thể giới thiệu những mẫu mới tối đa 1 lần cho mỗi mùa. Bên cạnh đó, áo quần của Zara luôn mang khuynh hướng “siêu thời trang” với giá cả phải chăng , sản xuất tại châu Âu, cửa hàng được bố trí tại những địa điểm đông người qua lại, chỉ quảng cáo trên radio hay… khi khách hàng trở lại lần thứ hai. Chúng ta học được điều gì ở đây? Đó là không thể sao chép bất cứ mắt xích nào trong toàn bộ chiến lược của Zara bởi vì chiến lược này chỉ hoàn hảo khi nó là cả một chuỗi liên kết với nhau.

6. Chiến lược phải là bất biến

Sự bất biến của chiến lược đảm bảo cho tính ổn định của những giá trị cơ bản của công ty. Nhiều khi, chính thái độ quan tâm thái quá đến những đòi hỏi và khiếu nại của khách hàng lại trở thành mối đe dọa bên ngoài đối với tiến trình thực hiện chiến lược đã vạch ra. Có những trường hợp, việc công ty khuyên khách hàng tìm đến các đối thủ cạnh tranh sẽ tốt hơn, bởi vì chiến lược đã được công ty thông qua đôi khi buộc phải làm một số khách hàng không hài lòng để đa số những khách hàng khác có thể hài lòng ở mức độ cao hơn.

7. Chọn cho mình một hướng đi

Chọn hướng đi, hay nói cách khác là chọn lấy một phần thị trường, là khâu quan trọng nhất trong việc hoạch định chiến lược. Bạn có thể chọn bất kỳ khu vực khách hàng, sản phẩm hay cách thu mua hàng hóa hay dịch vụ nào, ngay cả trong trường hợp khu vực đó nhìn bên ngoài không có gì hấp dẫn.
Điều cần nhớ là phải biết xác định ranh giới của khu vực đã chọn, và làm sao để tất cả các mắt xích của chiến lược phải phù hợp với khu vực đó.

8. Giám đốc điều hành không phải là “người đặt hàng” chiến lược, cũng không phải là động cơ của chiến lược

Vai trò của giám đốc điều hành trong việc soạn thảo và thực hiện chiến lược có thể được tóm tắt trong một số chức năng dưới đây:

- Đặt câu hỏi làm sao để câu trả lời có thể tìm thấy trong kế hoạch chiến lược;
- Lựa chọn những người tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược;
- Trực tiếp tham gia vào giai đoạn sơ khởi của quá trình hình thành chiến lược cho mỗi bộ phận của công ty;
- Thông qua ban giám đốc về những kế hoạch chiến lược chủ yếu của công ty;
- Mời một số nhà tư vấn bên ngoài.

Chiến lược của công ty đụng chạm đến quyền lợi của mọi người, bởi vậy nó cần phải thu hút được sự quan tâm của tất cả mọi tổ chức thành viên, chứ không chỉ riêng giám đốc điều hành. Nếu nhân viên công ty (ở bất cứ cấp bậc nào) kiên quyết không chấp nhận chiến lược đã thông qua, nghĩa là người này không thể tiếp tục làm việc trong công ty.

9. Chiến lược không phải là…

- Mục tiêu;
- Sự tưởng tượng;
- Cơ cấu lại tổ chức công ty;
- Sự hợp nhất;
- Liên doanh;
- Công nghệ;
- Đổi mới;
- Nhân viên ngoài hợp đồng;
- Huấn luyện.

10. Chiến lược- đó là…

- Đề nghị độc đáo và có giá trị;
- Tổ hợp các hoạt động để tạo ra lợi nhuận khác với đối thủ cạnh tranh;
- Những thỏa hiệp rõ ràng kèm theo sự xác nhận những điều công ty không thực hiện;
- Những hoạt động gắn kết với nhau và giúp nhau nâng cao tính hiệu quả của hoạt động;
- Tính bất biến trong lập trường.
Vài nét về Michael Porter: ông là giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Harvard, chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chiến lược cạnh tranh và là một trong những giáo sư trẻ nhất trong lịch sử của trường đại học danh tiếng này. Với tư cách là nhà tư vấn về chiến lược cạnh tranh, ông đã thuyết trình về vấn đề này tại nhiều công ty hàng đầu của Mỹ và thế giới như AT&T, DuPont, Procter & Gamble, Royal Dutch/Shell, tư vấn công tác điều hành cho ban giám đốc Alpha-Beta Technologies, Parametric Technology Corp., R&B Falcon Corp , ThermoQuest Corp. Michael Porter đồng thời cũng là tác giả 16 cuốn sách và hơn 100 bài báo về các đề tài khác nhau trong lĩnh vực kinh doanh.